Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Chiến lược “hoa trên sa mạc”: Cách thức tìm kiếm cơ hội trong khó khăn trên TTCK

24 Mar

Chiến lược “hoa trên sa mạc”: Cách thức tìm kiếm cơ hội trong khó khăn trên TTCK

Để tìm một nơi đầu tư tốt đôi khi lại là những lĩnh vực tưởng chừng không mấy hấp dẫn, sự tăng trưởng thường là rất chậm, thậm chí là không tăng trưởng, thì những công ty yếu sẽ tự đào thải và những công ty sống sót sẽ được hưởng thị phần lớn hơn.

Peter Lynch được mệnh danh là “nhà quản lý tiền số một trên thế giới”, ông đã phát triển quỹ Fidelity Magellan Fund từ 20 triệu đô-la năm 1977 lên 14 tỷ đô-la năm 1990. Trong 13 năm đó, ông đã thắng chỉ số S&P 500 Index 11 năm.

Peter Lynch thành công không phải bởi vì khả năng “timing the market” (dự đoán thị trường) mà là ở khả năng lựa chọn cổ phiếu xuất sắc của mình. Một trong những chiến lược mang lại sự thành công rất lớn trong sự nghiệp đầu tư của ông là chiến lược mà ông gọi là “hoa trên sa mạc” – ngụ ý về những công ty thành công trong những lĩnh vực không mấy hấp dẫn.

Ông cho rằng một ngành công nghiệp lớn, phát triển nhanh như máy tính hay công nghệ, y học thì đã thu hút quá nhiều sự quan tâm và có quá nhiều đối thủ cạnh tranh rồi (đại dương đỏ). Khi một lĩnh vực đã trở nên quá phổ biến, không ai còn muốn đầu tư kiếm tiền ở lĩnh vực đó nữa vì dư địa tăng trưởng chậm lại và tỷ suất sinh lợi không cao.

Để tìm một nơi đầu tư tốt đôi khi lại là những lĩnh vực tưởng chừng không mấy hấp dẫn, sự tăng trưởng thường là rất chậm, thậm chí là không tăng trưởng, thì những công ty yếu sẽ tự đào thải và những công ty sống sót sẽ được hưởng thị phần lớn hơn. Nếu một công ty có thể nắm giữ thị phần ngày càng lớn từ một thị trường phát triển chậm chạm thì còn tốt hơn nhiều so với công ty nằm trong một thị trường hấp dẫn nhưng phải vật lộn để bảo vệ thị phần đang dần bị thu hẹp của mình.

Ví dụ như ngành hàng không là một trong những lĩnh vực kém hấp dẫn do tính chất đặc thù là phải đầu tư vào tài sản cố định lớn, chi phí khấu hao, sửa chữa bảo trí tốn kém, đòn bẩy và sử dụng thuê tài chính cao, cộng thêm các rủi ro về biến động giá nhiên liệu, tỷ giá, vấn đề khủng bố và dịch bệnh…. nên trong những năm thập niên 80 thì ngành hàng không là ngành kinh doanh tồi tệ nhất. Eastern, Pan Am, Branifff, Continental, Midway đều phá sản, còn một số công ty khác thì đang trên bờ vực phá sản. Thế mà trong 10 năm thải hại này, cổ phiếu Southwest Ảilines vẫn tăng từ 2,4 đô-la lên 24 đô-la. Vậy tại sao lại như vậy?

Herb Helleher – Người sáng lập, kiêm Tổng giám đốc điều hành của hãng Southwest Airlines giải quyết khó khăn đó bằng một cách nghĩ khác biệt: “Số người đi máy bay thì ít mà số người chưa đi máy bay thì nhiều. Vậy làm thế nào để những người chưa đi máy bay chuyển sang đi máy bay, thay vì cố giành giật cạnh tranh trong “đại dương đỏ” chật hẹp nơi những người đi máy bay là những có tiền và thiểu số?”.

Southwest đã tiến hành cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không giá rẻ và phục vụ trên những chẳng đường ngắn. Ngoài ra, công ty đã hình thành một “đại dương xanh” bằng cách đưa ra dịch vụ vận chuyển kết hợp giữa tốc độ máy bay và tính kinh tế và linh hoạt của ô tô. Để làm được điều này Southwest Airlines đã đưa ra loại hình vận chuyển tốc độ cao với thời gian khởi hành thường xuyên và linh hoạt với mức giá hấp dẫn.

Bằng cách loại bỏ và giảm bớt một số yếu tố, gia tăng những yếu tố cạnh tranh khác trong ngành hàng không truyền thống, đồng thời tạo ra yếu tố mới từ ngành vận tải ô tô, Southwest Airlines đã đem lại một bước đột phá về giá trị với mô hình kinh doanh chi phí thấp, kết hợp độc đáo giữa máy bay và ô tô.

Với khẩu hiệu “Bạn có tốc độ của máy bay nhưng chỉ với giá của ô tô – bất kể khi nào bạn cần”. Các hãng hàng không truyền thống sẽ đáp lại khẩu hiệu này như thế nào? “Tốc độ chậm với giá cao hơn”?.

Southwest Airlines xác lập những mức giá cạnh tranh với việc vận chuyển bằng ô tô. Họ không đầu tư nhiều vào các bữa ăn, ghế ngồi và sự lựa chọn chỗ ngồi. Chi phí vận hành/dặm của mỗi ghế bay là 5-7xu, trong khi chi phí trung bình của ngành là 7-9 xu. Họ không vay quá nhiều tiền để mua thêm máy bay, không trả lương quá cao cho các giám đốc điều hành, ngay cả trụ sở làm việc của Công ty tại Love Field, Dallas cũng giống như một doanh trại, để có thể tiết kiệm tối đa.

Ngoài ra, trong khi các hãng máy bay khác dùng những máy bay cỡ lớn theo lộ trình dài giống nhau, thì Southwest tự tìm cho mình phương pháp thích hợp là “các chặng bay ngắn” với mật độ dày, giá vé thấp.

(Source: Ocean Blue Strategry)

Khi các đối thủ cạnh tranh của hãng yếu dần đi thì Southwest đã hoàn toàn sẵn sàng tận dụng lợi thế này. Điều này cũng thường xảy ra đối với một công ty lớn trong một ngành công nghiệp không mấy hấp dẫn, gần đây hãng đã mở rộng sang các tuyến mà USAir và American West bỏ lại, cả hai hãng này đều buộc phải cắt giảm dịch vụ vì các vấn đề tài chính.

Ngay cả Warren Buffet khi đầu tư trong lĩnh vực này cũng gặp rất nhiều khó khăn, trong phi vụ đầu tư vào hãng máy bay US Airway khi dùng 358 triệu đô-la để mua cổ phiếu ưu đãi của hãng này, từ năm 1990 đến năm 1994, hãng này đã phải đối mặt với rất nhiều đối thủ cạnh tranh và bị thua lỗ 2,4 tỷ đô-la, và Warren Buffet đã phải thừa nhận “ông đã cố gắng bán hết số cổ phiếu này nhanh chóng nhưng đã bị thất bại một cách may mắn”, khoản đầu tư trị giá 358 triệu USD thực sự không còn một xu nào, mặc dù sau đó, ông cũng lấy lại được nó.

Như vậy với những ngành nghề kinh doanh không mấy hấp dẫn, hoặc ngành nghề thuộc loại khó nhưng chỉ cần bạn phát hiện và đánh giá đúng những doanh nghiệp “xử lý tốt” và giải quyết các vấn đề khó khăn đó một cách thành công, cơ hội sẽ rất lớn. Southwest Airlines là một trường hợp điển hình như vậy

Cổ phiếu LUV của hãng từ năm 1992 đến nay vẫn tăng chưa thấy đỉnh.

Ở Việt Nam, năm 2015 chứng kiến là một năm khó khăn của ngành thép, với tình trạng thép giá rẻ trung quốc ào ào đổ bộ vào Việt Nam, giá thép thế giới xuống thấp nhất trong 5 năm, trước tình hình đó các công ty thương mại vốn đặc thù phải sử dụng đòn bẩy tài chính cao để tồn kho thép, nhiều công ty thương mại thép đã lâm vào tình trạng khó khăn như KKC, TLH, SMC đều báo cáo kết quả kinh doanh năm 2015 lỗ. Riêng CTCP Thương mại xuất nhập khẩu Thiên An (mã chứng khoán TNA) doanh thu và lợi nhuận vẫn liên tục tăng trưởng bất chấp khó khăn của ngành.

Giá cổ phiếu của TNA năm 2015 tăng 50% trong khi các cổ phiếu thép khác đều quay đầu đi xuống.

Một trường hợp khác là CTCP Thuỷ Sản Vĩnh Hoàn (VHC), ngành thuỷ sản vốn là ngành rất nhạy cảm và rủi ro bởi các yếu tố vĩ mô, chính sách, tỷ giá và kiểm soát vùng nguyên liệu. Điển hình là năm 2015 các nước xuất khẩu thuỷ sản đã liên tiếp phá giá đồng nội tệ của họ, Indonesia phá giá đồng Rupiah 42%, Malaysia phá giá đồng Ringit 33%, Ấn độ phá giá đồng Rupee 20% và Thái Lan phá giá đồng Bath 18%, đây là lý do lớn nhất làm cho các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam trong đó có MPC, HVG, AGL điêu đứng.

MPC từ lãi xấp xỉ cả ngàn tỷ năm 2014 thì năm 2015 báo lỗ và huỷ niêm yết, HVG từ 424 tỷ đồng lợi nhuận năm 2014 cũng chỉ còn vẻn vẹn 141 tỷ đồng (có thời điểm HVG bán 400 đồng thu về 1 đồng như Quý II/2015 doanh nghiệp này đạt doanh thu hơn 4.600 tỷ đồng mà lãi vỏn vẹn 12 tỷ đồng). Trong khi các doanh nghiệp khác thì tăng trưởng thất thường dựa vào biến độngkhách quan thì VHC vẫn duy trì phong độ, năng lực đáp ứng đầy đủ kịp thời sự chuyển đổi của thế giới trong ngành nuôi trồng và chế biến thuỷ sản.

Cụ thể VHC duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận bền bỉ từ 288 tỷ đồng năm 2014 (loại trừ khoản lãi đột biến do chuyển nhượng nhà máy Vĩnh Hoàn 1), thì sang năm 2015 VHC lãi 322 tỷ đồng, và năm 2016 lãi 560 tỷ đồng.

Và giá cổ phiếu của VHC vẫn luôn hoạt động tích hơn so với thị trường và đối thủ của nó là HVG.

Biến động giá cổ phiếu VHC so với HVG và Vnidex từ 2013 đến 2016

Tìm cơ hội trong khó khăn giống như “hoa trên sa mạc” theo cách ví của Peter Lynch, những doanh nghiệp khi khó khăn vẫn thể hiện khả năng tăng trưởng tốt và sức “đề kháng” cao với những bất ổn của ngành thì khi ngành đó được hưởng lợi, doanh nghiệp đó sẽ càng tăng trưởng hơn nữa.

Theo NDH