Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Kinh Tế Vĩ Mô Quý I/2017

03 Apr

Kinh Tế Vĩ Mô Quý I/2017

I. KINH TẾ VIỆT NAM

1.1. GDP quý I tăng trưởng 5,1%, thấp nhất trong 3 năm trở lại đây

1.1.1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2017 ước tính tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng cùng kỳ các năm 2012-2014, nhưng thấp hơn so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015 và 5,48% của cùng kỳ năm 2016. Trong đó:

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,03%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung;

Ngành nông nghiệp đã cho thấy dấu hiệu khả quan với mức tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2016 ngành này giảm sâu 2,69%), đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp tăng 4,94%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,17%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm;

Ngành công nghiệp chỉ tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, thấp nhất kể từ năm 2011 trở về đây, trong đó ngành khai khoáng sụt giảm mạnh, bằng 90% cùng kỳ năm trước, làm giảm 0,76 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung; ngành chế biến, chế tạo đạt mức tăng 8,30% (giảm đáng kể so với mức tăng 9,70% của cùng kỳ năm 2015 và 8,94% của cùng kỳ năm 2016), đóng góp 1,46 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 6,10%, thấp hơn tốc độ tăng 8,60% của cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,30 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ tăng 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm.

Bán buôn và bán lẻ tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,77 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,03%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,76%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục được cải thiện, đạt mức tăng 3,72%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm.

1.1.2. Cơ cấu kinh tế

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,06%; khu vực dịch vụ chiếm 43,99%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,76% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 11,42%; 34,37%; 43,54%; 10,67%).

1.2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 tăng 0,21% so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2017 tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 0,90% so với tháng 12/2016 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng:

– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 7,51% (dịch vụ y tế tăng 9,86%) do trong tháng có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế.

– Nhóm giáo dục tăng 0,75% (dịch vụ giáo dục tăng 0,87%) do trong tháng tỉnh Thanh Hóa thực hiện lộ trình tăng học phí.

– Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,5% (giá vật liệu xây dựng tăng 0,53%; giá nước sinh hoạt tăng 0,43%; giá điện sinh hoạt tăng 0,26%).

– Nhóm giao thông tăng 0,39% chủ yếu do ảnh hưởng của lần điều chỉnh tăng giá xăng, dầu tại thời điểm 18/2/2017 (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,04%).

– Nhóm thiết bị và đồ gia đình gia đình tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; bưu chính viễn thông tăng 0,03%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 4,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, cao hơn so với mức của cùng kỳ 3 năm gần đây. CPI quý I năm nay tăng chủ yếu do:

– Các địa phương thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ y tế và thực hiện lộ trình tăng học phí;

– Hai tháng đầu năm trùng với Tết Nguyên đán nên nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng lên;

– Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới trong 3 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh, làm cho giá xăng dầu bình quân quý I tăng 34,92% so với cùng kỳ, đóng góp 1,45% vào mức tăng CPI chung.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2017 không đổi so với tháng trước và tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 3 tháng đầu năm 2017 tăng 1,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 3/2017 giảm 0,28% so với tháng trước; tăng 1,98% so với tháng 12/2016 và tăng 5,00% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2017 tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 0,26% so với tháng 12/2016 và tăng 1,92% so với cùng kỳ năm 2016.

1.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3/2017 ước tính tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,3%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%.

Tính chung quý I năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3%, đóng góp 5,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 11,4%, làm giảm 2,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Một số ngành có chỉ số sản xuất quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 43,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 14,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và sản xuất trang phục cùng tăng 11,6%; dệt tăng 11,4%.

Một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thiết bị điện tăng 5,6%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,4% (trong đó sản xuất đường giảm 6,5%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; khai khoáng khác tăng 1,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 1,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học giảm 1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,6%; khai thác than giảm 5,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,6%.

1.4. Giá trị sản xuất xây dựng quý I tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước

Giá trị sản xuất xây dựng quí I năm 2017 theo giá hiện hành ước tính đạt 225,8 nghìn tỷ đồng, ước tính tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước (theo giá so sánh năm 2010), Trong đó:

Xét về chủ thể xây dựng

– Khu vực Nhà nước đạt 17,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,6%, tăng 6,7%.

– Khu vực ngoài Nhà nước 196,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,1%, tăng 7%.

– Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 11,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,3%, giảm 7,1%

Xét về mục đích xây dựng

– Giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 91,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,5%, tăng 10,7%.

– Công trình nhà không để ở đạt 37,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,5%, tăng 0,4%.

– Công trình kỹ thuật dân dụng đạt 72 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,9%, tăng 3%.

– Hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 25 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,1%, tăng 8,7%.

1.5. Tăng trưởng tín dụng quý I tăng 2,81%, tăng mạnh nhất trong vòng 6 năm

Tính đến thời điểm 20/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,88% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 3,08%). Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,43% (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,26%). Tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm đã tăng mạnh nhất trong vòng 6 năm trở lại đây đạt 2,81%, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp tương đối tốt và thu nhập lãi của các ngân hàng có sự cải thiện tích cực.

Lãi suất huy động hiện nay khá ổn định. Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4%-7,2%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-7%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt có tình hình tài chính minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4%-5%/năm.

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2017 ước tính tăng 20% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 29%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 15%.

1.6. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và góp vốn quý I đạt 7,71 tỷ USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2017 thu hút 493 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.917,2 triệu USD, tăng 4,2% về số dự án và tăng 6,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 223 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 3.940 triệu USD.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng đầu năm ước tính đạt 3.620 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 3 tháng đầu năm 2017 có 1.077 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 852,9 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 3 tháng đầu năm đạt 7.710,1 triệu USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm trước.

1.6.1. Các ngành thu hút vốn đầu tư  

– Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.179,7 triệu USD, chiếm 74,7% tổng vốn đăng ký cấp mới;

– Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 311 triệu USD, chiếm 10,7%;

– Các ngành còn lại đạt 426,5 triệu USD, chiếm 14,6%.

Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài:

– Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 3 tháng đầu năm đạt 6.545,6 triệu USD, chiếm 84,9% tổng vốn đăng ký;

– Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 343,7 triệu USD, chiếm 4,5%;

Các ngành còn lại đạt 820,8 triệu USD, chiếm 10,6%.

1.6.2. Các nước rót vốn đầu tư

Trong số 38 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 3 tháng năm nay, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 931,3 triệu USD, chiếm 31,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 683,9 triệu USD, chiếm 23,4%; Xin-ga-po 446,3 triệu USD, chiếm 15,3%; Nhật Bản 218,3 triệu USD, chiếm 7,5%; Quần đảo Vigin thuộc Anh 125 triệu USD, chiếm 4,3%.

1.7. Xuất khẩu tăng trưởng vượt kỳ vọng, quý I nhập siêu 1,9 tỷ USD

1.7.1. Xuất khẩu

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba ước tính đạt 16,30 tỷ USD, tăng 24,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,59 tỷ USD, tăng 27,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 11,71 tỷ USD, tăng 23,1%.

Tính chung quý I năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 12,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 31,4 tỷ USD, tăng 13%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu:

– Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 20,5 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 46,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (giảm 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2016).

– Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt gần 17 tỷ USD, tăng 14,2% và chiếm 38,8% (tăng 0,5 điểm phần trăm).

– Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 4,8 tỷ USD, tăng 11,8% và chiếm 10,9% (giảm 0,1 điểm phần trăm).

– Hàng thủy sản đạt 1,5 tỷ USD, tăng 6% và chiếm 3,4% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Thị trường xuất khẩu: 

– Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 8,7 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó hàng dệt may tăng 10,7%; giày dép tăng 12,5%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 13%.

– EU với 7,9 tỷ USD, tăng 4,2%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 3,2%; dệt may tăng 10,7%; giày dép tăng 14%.

– Trung Quốc đạt 6 tỷ USD, tăng 43,3%, trong đó xơ sợi dệt tăng 26%; rau quả tăng 28,9%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 103,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 115,5%.

– Thị trường ASEAN đạt 4,9 tỷ USD, tăng 21,8%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 5,6%; sắt thép tăng 69,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 100,6%. Nhật Bản đạt 3,7 tỷ USD, tăng 15,4%.

– Hàn Quốc đạt 3 tỷ USD, tăng 24,1%.

1.7.2. Nhập khẩu

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba năm nay ước tính đạt 17,40 tỷ USD, tăng 14,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,90 tỷ USD, tăng 14,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,50 tỷ USD, tăng 15,2%.

Tính chung kim ngạch hàng hoá nhập khẩu quý I năm nay đạt 45,6 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập 18,4 tỷ USD, tăng 24,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập 27,2 tỷ USD, tăng 21,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I năm 2017 tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.

Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu:

– Nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 42 tỷ USD, tăng 22,7% và chiếm 92% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2016),

– Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 3,7 tỷ USD, tăng 19,7% và chiếm 8% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Thị trường nhập khẩu:

– Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 11,9 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó kim ngạch nhập khẩu một số mặt phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp tăng: Điện thoại và linh kiện tăng 5,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 23,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 25,4%.

– Hàn Quốc đạt 9,3 tỷ USD, tăng 36,1%, trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 16,1%; điện thoại và linh kiện tăng 20,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 84,2%.

– ASEAN đạt 6,3 tỷ USD, tăng 17,7%, trong đó chất dẻo nguyên liệu tăng 15,1%; xăng dầu tăng 26,1%; ô tô nguyên chiếc tăng 76,1%; điện tử, máy tính và linh kiện và hàng điện gia dụng cùng giảm 14,3%.

– Nhật Bản đạt 3,9 tỷ USD, tăng 23,3% trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 15,3%; sắt thép tăng 20,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 23,2%.

– EU đạt 2,9 tỷ USD, tăng 28,7%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 6,7%; dược phẩm tăng 16,8%; sản phẩm hóa chất tăng 19,4%. Hoa Kỳ đạt 2,3 tỷ USD, tăng 32,1%.

1.7.3. Cán cân thương mại

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng Hai nhập siêu 2 tỷ USD; tháng Ba ước tính nhập siêu 1,1 tỷ USD. Tính chung quý I/2017 nhập siêu 1,90 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,06 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,16 tỷ USD.

1.8. Thu ngân sách đạt 17,9% dự toán năm; chi ngân sách đạt 16,5% dự toán năm

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 216,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán năm, trong đó:

– Thu nội địa 175,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,7%;

– Thu từ dầu thô 9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4%;

– Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 32,2 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 229,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm, trong đó:

– Chi đầu tư phát triển 32,6 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1%

– Chi thường xuyên 173,2 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%;

– Chi trả nợ lãi 23 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2%.

– Chi trả nợ gốc ước tính đạt 38,4 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4%.

1.9. Gần 26.500 doanh nghiệp thành lập mới trong quý 1, tăng 11,4%

Trong tháng Ba, cả nước có 12.027 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 118,7 nghìn tỷ đồng, tăng 120% về số doanh nghiệp và tăng 90,6% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,9 tỷ đồng, giảm 13,2%.

Tính chung quý I năm nay, cả nước có 26.478 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 271,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 30,9%.

Số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký trong quý I tăng ở hầu hết các lĩnh vực, cụ thể:

– Kinh doanh bất động sản tăng 55% về số doanh nghiệp và tăng 31,1% về vốn đăng ký;

– Giáo dục và đào tạo tăng 28% về số doanh nghiệp và tăng 79,7% về vốn đăng ký;

– Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 26,3% về số doanh nghiệp và tăng 50,1% về vốn đăng ký;

– Khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 15,8% về số doanh nghiệp và tăng 21,9% về vốn đăng ký;

– Dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 14,8% về số doanh nghiệp và tăng 136,7% về vốn đăng ký;

– ….

Trong tháng 3, cả nước có 1.294 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 46,4% so với tháng trước; có 4.590 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 39,5%; có 744 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 20,9%.

Tính cả trong quý 1, có 9.271 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước; Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 3.268 doanh nghiệp, tăng 12%; Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 20.636 doanh nghiệp, tăng 3%.

1.10.Tình hình kinh doanh được cải thiện dưới góc nhìn doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2017 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 24,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 41,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.

Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 57,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 9,8% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 32,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Về khối lượng sản xuất, có 35,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I năm nay tăng so với quý trước; 25,6% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 39,2% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Về xu hướng quý II so với quý I, có 58,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 8,3% số doanh nghiệp dự báo giảm và 33,5% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 31% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý I năm nay cao hơn quý trước; 22,9% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 46,1% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý II khả quan hơn so với quý I với 51,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 8,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 40,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý I năm nay so với quý trước, có 27% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 19,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 53,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 38,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 9,3% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 51,9% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 28,3% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý I năm nay tăng so với quý trước; 7,5% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 64,2% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý II/2017, có 20,6% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý I; 9,6% cho rằng chi phí giảm và 69,8% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm, có 18,2% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm quý I năm nay tăng so với quý trước; 8% số doanh nghiệp cho biết giá bán thấp hơn và 73,8% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý II so với quý I, có 18,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 6,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 19,4% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý I năm nay tăng so với quý trước; 28,9% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 51,7% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 14,4% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 32,3% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 53,4% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu, quý I/2017 so với quý trước, có 17,8% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 27,5% số doanh nghiệp cho là giảm và 54,7% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý II so với quý I, có 13,9% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 31,3% dự báo lượng tồn kho giảm và 54,8% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu.

Về sử dụng lao động, quý I năm nay so với quý trước, có 16,1% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 13,5% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 70,4% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Dự kiến quý II so với quý I, có 22,2% số doanh nghiệp dự báo quy mô lao động tăng; 6,4% số doanh nghiệp dự báo giảm và 71,4% số doanh nghiệp ổn định quy mô lao động.

Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2017, gồm:

– 56,2% doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;

– 44,2% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp;

– 34,5% doanh nghiệp cho rằng do khó khăn về tài chính;

– 31,2% doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu;

– 27% doanh nghiệp cho rằng lãi suất cao;

– 22,9% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao là yếu tố quan trọng.

II. KINH TẾ THẾ GIỚI

2.1. Kinh tế thế giới tăng trưởng tích cực hơn

Kinh tế thế giới trong quý I/2017 cơ bản ổn định, có dấu hiệu tăng trưởng tích cực hơn do sự phục hồi của một số nền kinh tế lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản…) và sự ổn định của các nền kinh tế đang nổi (Trung Quốc, Nga, Bra-xin…).

2.1.1. Dự báo kinh tế thế giới 2017 của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)

– Các nước phát triển tăng trưởng 1,9-2% trong năm 2017-2018

Kinh tế Hoa Kỳ tiếp tục phục hồi tích cực, là một động lực chính của kinh tế thế giới với tăng trưởng 2,4-2,8% trong năm 2017-2018 nhờ chính sách kích thích tài khóa của chính quyền Donald Trump.

Kinh tế khu vực đồng Euro phục hồi nhẹ với tăng trưởng 1,6% trong năm 2017-2018 nhờ hiệu ứng nới lỏng tiền tệ và kích thích tài khóa với quy mô nhỏ. Lạm phát vẫn ở mức thấp thể hiện sức mua yếu; thất nghiệp giảm dần, song vẫn ở mức cao trên 9%; nợ cao và khó khăn trong hệ thống ngân hàng gây nhiều trở ngại cho phục hồi tăng trưởng.

Kinh tế Nhật Bản ấm lên với tăng trưởng 1,2% trong năm 2017, sản xuất công nghiệp và xuất khẩu khởi sắc nhờ nới lỏng tài khóa, đồng Yên giảm giá.

– Các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển lấy lại đà tăng trưởng tích cực với tốc độ 4,5% trong năm 2017 và 4,8% trong năm 2018 (năm 2016 chỉ tăng 4,1%).

Trung Quốc được dự báo tăng trưởng 6,5% trong năm nay và 6,3% năm 2018; tiếp tục cải cách theo hướng “trọng cung”, “tiến lên trong ổn định”, mở rộng nội nhu, lấy đổi mới, sáng tạo là động lực; song gặp nhiều thách thức như sức ép giảm giá đồng Nhân dân tệ, rủi ro bất ổn tài chính, nợ doanh nghiệp tăng cao, xử lý dư thừa năng lực sản xuất (nhà ở, sắt thép…).

Ấn Độ tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao với tốc độ 7,3% trong năm 2017 và 7,7%  trong năm 2018 nhờ cải cách cơ cấu và tăng lương.

Nga Bra-xin tiếp tục phục hồi, từng bước ra khỏi suy thoái sâu và bắt đầu tăng trưởng dương trong năm 2017-2018.

2.2. Những thách thức tăng trưởng kinh tế thế giới trong thời gian tới

Một số tổ chức quốc tế (IMF, OECD…) nhận định các dấu hiệu phục hồi gần đây của kinh tế thế giới mới chỉ là bước đầu nhờ các yếu tố chu kỳ, chưa phải từ cải thiện các yếu tố nền tảng. Trong khi đó, môi trường kinh tế toàn cầu còn nhiều rủi ro có thể đảo ngược đà phục hồi:

– Điều chỉnh chính sách chính trị-kinh tế khó lường của một số nền kinh tế lớn, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, theo khuynh hướng hướng nội, bảo hộ làm suy giảm niềm tin và động lực mở rộng đầu tư, kinh doanh quốc tế, khiến thương mại và đầu tư quốc tế gặp khó khăn. Theo OECD, rào cản thương mại ở các nền kinh tế lớn (Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU) hiện nay đã tăng lên mức tương đương với thời điểm sau sự kiện khủng bố 11/9/2001 ở Hoa Kỳ.

– Căng thẳng địa-chính trị leo thang, nhất là bán đảo Triều Tiên; chủ nghĩa khủng bố, dịch bệnh, khủng hoảng di cư làm xáo trộn chính trị-xã hội và đe dọa an ninh nhiều nước, vô hình chung dựng lên nhiều rào cản đối với thương mại, đầu tư, du lịch, lao động.

– Tài chính-tiền tệ quốc tế còn nhiều yếu tố dễ tổn thương. Sự điều chỉnh của các thị trường tài chính quốc tế sau khi Hoa Kỳ tăng lãi suất cơ bản tiềm ẩn những biến động khó lường. Xu hướng đồng USD lên giá tạo thêm sức ép giảm giá nội tệ và nợ nước ngoài của nhiều nước, nhất là các nền kinh tế đang nổi, khiến tỷ giá các đồng tiền diễn biến phức tạp hơn.

2.3. Chính sách mới của chính phủ Hoa Kỳ

Sau hơn hai tháng cầm quyền, chính sách kinh tế của chính quyền Donald Trump ngày càng định hình rõ nét hơn với một số nội dung cơ bản sau đây:

– Về kinh tế trong nước: ủng hộ hướng nội để phát triển kinh tế và tạo việc làm với phương châm “mua hàng Hoa Kỳ và thuê người lao động Hoa Kỳ”; giảm thuế doanh nghiệp và hộ gia đình; tăng đầu tư cơ sở hạ tầng (dự kiến khoảng 1.000 tỷ USD); khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và mở rộng mạng lưới sản xuất tại Hoa Kỳ; có thể áp thuế cao với hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp Hoa Kỳ sản xuất ở nước ngoài; ưu tiên các ngành năng lượng truyền thống…

– Về kinh tế đối ngoại: ủng hộ thương mại tự do nhưng “công bằng”. Ngày 01/3/2017, Hoa Kỳ công bố Chương trình hành động về chính sách thương mại 2017 với phương châm “lợi ích Hoa Kỳ là trên hết”, trong đó ưu tiên 4 trọng tâm:

– Bảo vệ chủ quyền quốc gia; lấy pháp luật Hoa Kỳ là cơ sở pháp lý có giá trị cao nhất, các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) không có tính ràng buộc;

– Thực thi nghiêm pháp luật thương mại Hoa Kỳ, tăng cường sử dụng luật thương mại để đối phó, xử lý các hành vi bóp méo thương mại;

– Sử dụng tất cả các thế mạnh của Hoa Kỳ để các các nước khác mở cửa thị trường cho xuất khẩu của Hoa Kỳ; bảo vệ và thực thi hiệu quả luật sở hữu trí tuệ;

– Đàm phán các thỏa thuận thương mại mới và tốt hơn với các thị trường quan trọng; tập trung vào đàm phán song phương thay vì đa phương.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây