Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Báo cáo tình hình kinh tế vĩ mô tháng 4/2017

05 May

Báo cáo tình hình kinh tế vĩ mô tháng 4/2017

Tình hình kinh tế trong nước tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2017 đã có nhiều cải thiện so với Quý I. Kinh tế vĩ mô diễn biến theo chiều hướng tích cực, ổn định.

1. Kinh tế trong nước

1.1. Chỉ số giá tiêu tùng tháng 4 không thay đổi so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 giữ nguyên, hơn 0,90% so với tháng 12 năm 2016 và tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 8,05% (dịch vụ y tế tăng 10,59%), các nhóm khác tăng không đáng kể.

Một số nhóm giảm giá nhẹ như: nhóm giao thông giảm 1,38%, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,66%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,24%; bưu chính, viễn thông giảm 0,03%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 4,8% so với bình quân cùng kỳ năm 2016 nhưng thấp hơn mức bình quân 4,96% của Quý I năm 2017. Lạm phát cơ bản tháng 4 năm 2017 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,50% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 1,62% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

1.2. Thị trường tài chính tiền tệ và hoạt động ngân hàng diễn biến ổn định

Tính đến ngày 20 tháng 4 năm 2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,78% so với tháng 12 năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 4,54%). Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tăng 3,39% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 4,01%). Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 4,86% so với tháng 12 năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,99%).

Huy động vốn và tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng tốt từ những tháng đầu năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn so với cùng kỳ và có xu hướng tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn có thể gây áp lực đối với mặt bằng lãi suất và thanh khoản của các tổ chức tín dụng trong thời gian tới.

Mặt bằng lãi suất thị trường trong thời gian qua cơ bản được giữ ổn định – khoảng 6-9%/năm đối với kỳ hạn ngắn và 9-11%/năm đối với trung và dài hạn; khách hàng tốt, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4-5%/năm.

1.3. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng mạnh

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng 4 ước tính tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn so với tháng 3 (5,5%). Ước tính 4 tháng đầu năm 2017, IIP toàn ngành tăng 5,1%, cao hơn mức tăng trưởng của Quý I/2017 (4,1%) nhưng khá thấp so với mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2016.

So với cùng kỳ năm 2016, IIP các ngành công nghiệp đều thấp hơn: ngành chế biến, chế tạo tăng 9,2% (cùng kỳ năm 2016 tăng 9,7%); sản xuất và phân phối điện tăng 9,3% (cùng kỳ năm 2016 tăng 12,2%); ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,3% (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,7%); ngành khai khoáng tiếp tục giảm 9,7% (cùng kỳ năm 2016 giảm 1,6%).

Một số ngành có IIP 4 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất kim loại tăng 47,5%; dệt tăng 12,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,9%; sx hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất tăng 10,7%; sx đồ uống tăng 10,3% …

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,9%; sản xuất thuốc lá tăng 0,5%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 1,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/04/2017 tăng 12,7%, cao hơn so với cùng thời điểm năm 2016 (8,9%).

Tình hình sản xuất một số ngành công nghiệp

– Ngành dầu khí: Giá dầu thô bình quân tháng 4/2017 ở mức 55 USD/thùng, bình quân 4 tháng/2017 là 56 USD/thùng (bình quân 4 tháng 2016 chỉ đạt 37,4 USD/thùng). Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng khai thác dầu khí quy đổi trong nước ước đạt 5,25 triệu tấn, giảm 12,9% tương đương 780 nghìn tấn.   

– Ngành điện: điện sản xuất và mua vào đạt 58.744 triệu KWh, tăng 9,03% (trong đó: điện sản xuất của EVN tăng 6,5%; điện mua Trung Quốc giảm 10,8%). Điện thương phẩm đạt 52.306 triệu KWh, tăng 8,15%.

– Ngành than: sản lượng than sạch cả nước đạt 13.487 nghìn tấn, tăng 0,8%.

– Ngành thép: sản xuất thép thô ước đạt 1.911 nghìn tấn, tăng 30,1%; thép cán ước đạt 2.009 nghìn tấn, tăng 29,3%; thép thanh, thép góc ước đạt 1.645 nghìn tấn, tăng 8,6%. Ngành phân bón, hóa chất: sản lượng phân ure đạt 845,4 nghìn tấn, tăng 23,9%; phân hỗn hợp (N,P,K) đạt 737 nghìn tấn, tăng 7,1%.

– Ngành sản xuất xi măng: sản lượng sản xuất xi măng đạt 25,9 triệu tấn.

– Ngành dệt may, da giày: vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 9,7%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 5,5%; quần áo mặc thường tăng 8,8% so với cùng kỳ.

– Ngành sản xuất thiết bị điện tử, ô tô: sản xuất ô tô đạt 74,8 nghìn chiếc tăng 8,6%; sản xuất ti vi đạt 2.816 nghìn cái tăng 42%; điện thoại di động đạt 65,7 triệu cái giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong tháng 4 năm 2017, thị trường chứng khoán diễn biến tích cực. Chỉ số VN-Index tiếp cận mốc 730 điểm. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán tiếp tục tăng.

– Xuất nhập khẩu tiếp tục đà tăng trưởng

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tính chung 4 tháng đầu năm 2017 ước đạt 61,34 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2016 đạt tăng 6,5%). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 17,29 tỷ USD, tăng 13,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 44 tỷ USD, tăng 16,1%.

Xuất khẩu tăng cao 4 tháng đầu năm ghi nhận sự đóng góp của tăng giá xuất khẩu đối với các mặt hàng chủ lực so với cùng kỳ năm 2016 như hạt điều (giá tăng 23%), cà phê (tăng 33,4%), than đá (tăng 81%), dầu thô (tăng 43,7%), xăng dầu (tăng 41,2%), cao su (tăng 69,7%), sắt thép (tăng 21,9%)…

Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 4 tháng đầu năm nay thay đổi không nhiều so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu sang các nước ASEAN có sự phục hồi, tăng trên 25% so với cùng kỳ.

Tổng kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2017 ước đạt 64,07 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2016 (cùng kỳ giảm 1,2%). Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu đạt 38,3 tỷ USD, tăng 25,3%; khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 25,78 tỷ USD, tăng 24,4%.

Nhóm hàng cần nhập khẩu đối với nền kinh tế vẫn chiếm tỷ trọng chủ đạo (88,8%) với tốc độ tăng trưởng cao (26,6%), hầu hết là các mặt hàng thuộc nhóm nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào cơ bản phục vụ sản xuất và nhóm máy móc thiết bị cho mở rộng sản xuất.

Nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu giảm 7%, trong khi nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu vẫn tiếp tục tăng ở mức 21,3%, trong đó đáng lưu ý là kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi tiếp tục tăng cao ở mức 50,4% với ước đạt 295 triệu USD, do sự gia tăng cả về lượng nhập khẩu (88,1%) và giá nhập khẩu (20,1%).

1.4. Cán cân thương mại: tốc độ tăng trưởng nhập khẩu lớn hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khiến cho nhập siêu gia tăng, nhập siêu 4 tháng năm 2017 là 2,74 tỷ USD, chiếm 4,47% kim ngạch xuất khẩu (cao hơn mục tiêu đã được Quốc hội thông qua, mục tiêu là 3,5%). Trong đó, khu vực FDI xuất siêu 5,75 tỷ USD; khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 8,49 tỷ USD.

Thu hút vốn FDI trong 4 tháng đầu năm

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tính đến ngày 20 tháng 4 năm 2017, cả nước có 734 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 4,88 tỷ USD, bằng 96% so với cùng kỳ năm 2016; có 345 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,36 tỷ USD, gấp 2,4 lần với cùng kỳ năm 2016 và 1.687 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN với tổng giá trị góp vốn là 1,35 tỷ USD, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ 2016.

Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2017, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 10,95 tỷ USD, tăng 40,5% so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, ước thực hiện giải ngân các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đạt 4,8 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2016.       

1.5. Cân đối thu chi ngân sách nhà nước, đảm bảo kế hoạch đề ra

Tổng thu ngân sách nhà nước luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 15 tháng 4 năm 2017 đạt gần 316,7 nghìn tỷ đồng, bằng 25,6% dự toán (cùng kỳ năm 2016 đạt 25,1% dự toán); trong đó:

Tiến độ thu nội địa đạt 25,6% dự toán;

Thu từ dầu thô đạt khá bằng 33,9% dự toán (cùng kỳ năm 2016 đạt 20,1%) do giá dầu thô trên thị trường thế giới từ cuối tháng 3 đến nay giao động trong khoảng 48-52 USD/thùng, tăng 3,8 USD/thùng so với dự toán;

Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 27,7% dự toán.

Chi ngân sách nhà nước, ước đến hết ngày 15/4/2017, đạt 336,78 nghìn tỷ đồng, bằng 24,2% dự toán, trong đó: chi trả nợ gốc ước bằng 33% dự toán; chi thường xuyên bằng 27,5% dự toán.

1.5. Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện

Trong tháng 4 năm 2017, có 13.102 doanh nghiệp được đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 98.397 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2016, tăng 19,6% về số doanh nghiệp và tăng 58,1% về số vốn đăng ký, giữ kỷ lục là tháng có số doanh nghiệp thành lập mới nhiều nhất trong 12 tháng qua.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, cả nước có thêm 39.580 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 369,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14% về số doanh nghiệp và tăng 48,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016 (cùng kỳ tăng 22,9% về doanh nghiệp và tăng 52,8% về vốn). Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng đăng ký mới đạt 12.088 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký đạt 132,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 35,8%).

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 4 tháng đầu năm 2017 đạt 9,3 tỷ đồng, tăng 30,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Nếu tính cả 455,697 nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm 2017 là 825,3 nghìn tỷ đồng. Trong 4 tháng đầu năm còn có 11.545 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 4 tháng tháng đầu năm 2017 là 4.067 doanh nghiệp, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 15,7%).

Báo cáo mới nhất của Nikkei cho biết chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 4/2017 đạt 54,1 điểm, giảm nhẹ 0,5 điểm so với tháng 3 nhưng vẫn thể hiện sự cải thiện mạnh mẽ “sức khoẻ” của lĩnh vực sản xuất trong quý II. Nikkei đánh giá các điều kiện kinh doanh đã cải thiện hơn trong suốt 17 tháng qua. Theo đó, số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh là yếu tố chính góp phần cải thiện các điều kiện hoạt động, trong khi số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài tăng với tốc độ kỷ lục của lịch sử khảo sát.

2. Kinh tế thế giới

Từ đầu năm 2017 đến nay, các hoạt động kinh tế toàn cầu trở nên khởi sắc nhờ tăng trưởng tích cực của một số nền kinh tế lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, và sự phục hồi có tính chu kỳ của lĩnh vực chế tạo và thương mại. Tháng 4/2017, hầu hết các tổ chức quốc tế đều nâng dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2017-2018. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo KTTG tăng trưởng 3,5% năm 2017 và 3,6% năm 2018 (năm 2016 chỉ tăng 3,1%).

Giá nhiều hàng hóa đang phục hồi nhờ kỳ vọng nhu cầu toàn cầu tăng trở lại. Chỉ số giá hàng hóa sơ chế của IMF đã tăng 15% từ tháng 8/2016, trong đó giá dầu tăng 12%, khí đốt tăng 19%, giá than tăng hơn 20%, giá kim loại tăng 23,6%, giá nông sản tăng 4,9%… Nhờ phục hồi giá một số hàng hóa cơ bản và nhu cầu nhập khẩu của một số nền kinh tế lớn, thương mại toàn cầu đã khởi sắc từ đầu năm đến nay. Theo IMF, thương mại toàn cầu sẽ tăng 3,8% năm 2017 (năm 2016 chỉ tăng 2,2%) và 3,9% năm 2018, trong đó xuất nhập khẩu của cả các nước phát triển và các nền kinh tế đang nổi đều tăng 3,5%-4,5%.

IMF dự báo lạm phát toàn năm 2017 có thể tăng 4,5%, mức cao nhất kể từ năm 2011. Cuối tháng 3/2017, đồng USD (tính theo tỷ giá hiệu quả thực tế) đã tăng 3,5% so với tháng 8/2016. Tỷ giá các đồng tiền chủ chốt dự báo tiếp tục diễn biến khó lường do kỳ vọng chính quyền Mỹ sẽ kích thích tài khóa và tăng lãi suất nhanh hơn dự kiến, trong khi EU và Nhật Bản vẫn duy trì lãi suất 0% cùng với kết quả bầu cử khó dự báo ở một số nước EU chủ chốt (Pháp, Đức…).

Kinh tế Mỹ tiếp tục phục hồi với mức tăng trưởng dự báo đạt 2,3%-2,5% trong năm 2017-2018. Các chỉ số kinh tế cơ bản tiếp tục cải thiện như tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 4,5% trong tháng 3/2017 (mức thấp nhất trong 10 năm qua), thâm hụt thương mại tháng 2/2017 giảm còn 43,6 tỷ USD…

Khu vực đồng Euro dự báo tăng trưởng 1,6%-1,7% trong năm 2017-2018 nhờ hiệu ứng nới lỏng tiền tệ, đồng euro yếu; trong đó tăng trưởng của Đức đạt 1,5%-1,6%, Pháp 1,4%-1,6%, Italia 0,8%… Với tăng trưởng phục hồi tích cực, EU bắt đầu giảm quy mô nới lỏng định lượng tiền tệ từ 80 tỷ Euro/tháng xuống 60 tỷ Euro/tháng từ tháng 4/2017.

Nhật Bản dự báo giữ được đà phục hồi với tăng trưởng 1,2% trong năm 2017 nhờ xuất khẩu cải thiện, song trong năm 2018 tốc độ phục hồi sẽ suy giảm do rút dần kích thích tài khóa.

Các nền kinh tế đang nổi và các nước đang phát triển dự báo tăng trưởng tích cực hơn với tốc độ 4,5% năm 2017 và 4,8% năm 2018, trong đó khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn là động lực quan trọng của kinh tế toàn cầu với tăng trưởng 6,1%-6,2%.

Trung Quốc tăng trưởng 6,9% trong quý I/2017 nhờ tăng vốn đầu tư, dịch vụ và công nghiệp. Tháng 3/2017, đầu tư tài sản cố định tăng 9,2%, doanh số bán lẻ tăng 10,9%, công nghiệp tăng 7,6%… IMF đã nâng dự báo tăng trưởng của Trung Quốc lên 6,6% năm 2017 và 6,2% năm 2018 do tăng tín dụng và đầu tư để đạt mục tiêu tăng trưởng.

Các nước ASEAN-5 dự báo tiếp tục đà tăng trưởng tích cực với tốc độ 5,0-5,2% trong năm 2017-2018 nhờ phục hồi tiêu dùng trong nước, trong đó Indonesia tăng 4,5%, Malaysia tăng 6,8%, Philippines và Việt Nam tăng 6,5%.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

Phòng Giao Dịch tổng hợp