Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Báo cáo kinh tế vĩ mô tháng 5/2017

02 Jun

Báo cáo kinh tế vĩ mô tháng 5/2017

Kinh tế vĩ mô tháng 5/2017 tiếp tục diễn biến theo chiều hướng tích cực, ổn định. Chính phủ đang nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế để đạt mục tiêu 6,7% trong năm nay nhưng vẫn đảm bảo lạm phát không vượt quá 4%.

Mục tiêu tăng trưởng 6,7% năm 2017 là rất khó khăn nhưng có thể đạt được

Trong cuộc phỏng vấn với hãng tin Bloomberg tại Văn phòng Chính phủ ngày 27/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết mục tiêu tăng trưởng 6,7% năm nay của kinh tế Việt Nam “là rất khó nhưng có thể đạt được“. Việt Nam đang thực hiện các bước đi để thúc đẩy nền kinh tế, cố gắng duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Chính phủ sẽ phải cân bằng giữa nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với việc đảm bảo lạm phát không vượt quá mức mục tiêu 4%.

Trong cuộc họp về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh các ngành công nghiệp chế biến chế tạo, khai khoáng, hoá chất và công nghiệp hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng ngày 1/6, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu phải rà soát kỹ tình hình sản xuất để đề ra các chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành, từng sản phẩm để đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đã đề ra. Cụ thể:

– Ngành công nghiệp ô tô cần được khuyến khích để tăng tỉ lệ nội địa hoá, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

– Ngành cơ khí chế tạo, sản xuất thép, công nghiệp hoá chất, rượu bia, nước giải khát cần được tháo gỡ khó khăn để phát triển sản xuất.

– Lĩnh vực sản xuất điện thoại, linh kiện điện tử, vật liệu xây dựng cũng cần được ưu tiên hơn.

– Bộ Công Thương sớm có quy định chi tiết về chế biến sâu đối với một số loại khoáng sản; khuyến khích doanh nghiệp trong nước ưu tiên sử dụng nguyên liệu đầu vào là các loại khoáng sản trong nước sản xuất được.

– Thúc đẩy đầu tư xây dựng, tháo gỡ khó khăn về vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là các dự án phát triển hạ tầng giao thông (đường cao tốc, cảng biển…), các dự án điện; lọc hóa dầu.

– Ngành dầu khí sẽ phấn đấu khai thác thêm 1 triệu tấn dầu và 1 tỉ mét khối khí, qua đó phấn đấu cả năm sẽ đạt 13,28 triệu tấn dầu và 10,6 tỉ mét khối khí (đóng góp thêm khoảng 0,25% mức tăng GDP).

– Khả năng khai thác thêm than là khó khăn, do phụ thuộc vào thị trường.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 giảm 0,53% so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2017 giảm 0,53% so với tháng trước, tăng 0,37% so với tháng 12/2016 và tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Trong đó, có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm giá so với tháng trước: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,43% (lương thực giảm 0,06%; thực phẩm giảm 2,27% do giá thịt tươi sống giảm, tác động làm CPI giảm 0,51%); giao thông giảm 0,34% do điều chỉnh giảm giá xăng, dầu tại thời điểm 5/5/2017 và 20/5/2017 (giá nhiên liệu giảm 0,71%, tác động làm CPI giảm 0,03%); bưu chính viễn thông giảm 0,05%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,02%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại tăng giá nhẹ: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; giáo dục tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%.

Lạm phát cơ bản tháng 5/2017 tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 1,33% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 1,56% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng tháng 5/2017 giảm 0,10% so với tháng trước; tăng 2,91% so với tháng 12/2016 và tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2017 giảm 0,03% so với tháng trước; giảm 0,05% so với tháng 12/2016 và tăng 1,66% so với cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 tăng 7,2% so với cùng kỳ

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng 5 ước tính tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,2%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, tuy vẫn thấp hơn mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2016, nhưng cao hơn mức tăng 5,2% của 4 tháng đầu năm nay. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7% (đóng góp 6,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4% (đóng góp 0,7 điểm phần trăm); ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7% (đóng góp 0,1 điểm phần trăm); riêng ngành khai khoáng giảm 9,1% (làm giảm 2 điểm phần trăm mức tăng chung).

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2017 giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 9,3%).

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 4 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 13,2%; sản xuất kim loại tăng 12,1%; sản xuất đồ uống tăng 9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 8,9%.

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm thuốc lá và dệt cùng tăng 0,6%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 2,8%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/5/2017 tăng 11% so với cùng thời điểm năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,7%).

Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đạt 79,3 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 4/2017 đạt 17.536 triệu USD, cao hơn 836 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5 ước tính đạt 17,2 tỷ USD, giảm 1,9% so với tháng trước, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 79,3 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 22,1 tỷ USD, tăng 13,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 57,2 tỷ USD, tăng 19%. Trong đó:

Một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 16 tỷ USD (+12%); hàng dệt may đạt 9,4 tỷ USD (+9%); điện tử, máy tính và linh kiện đạt 9,4 tỷ USD (+46,2%); giày, dép đạt 5,6 tỷ USD (+10,5%); máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 5,1 tỷ USD (+38,2%); gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3 tỷ USD (+13,2%); thủy sản đạt 2,8 tỷ USD (+11,7%); phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,7 tỷ USD (+11%); cà phê đạt 1,6 tỷ USD (+13,5%, lượng giảm 14%); rau quả đạt 1,4 tỷ USD (+38,6%); dầu thô đạt 1,1 tỷ USD (+18,5%, lượng giảm 12%).

Một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước: Hạt tiêu đạt 601 triệu USD, giảm 16,6% (lượng tăng 13%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 437 triệu USD, giảm 12,8% (lượng giảm 8,6%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 5 tháng đầu năm: Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 16 tỷ USD, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 14,6 tỷ USD, tăng 9,5%; Trung Quốc đạt 10,5 tỷ USD, tăng 40,3%; ASEAN đạt 8,6 tỷ USD, tăng 26%; Nhật Bản đạt 6,4 tỷ USD, tăng 16,6%; Hàn Quốc đạt 5,7 tỷ USD, tăng 34,4%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 4/2017 đạt 17.350 triệu USD, thấp hơn 150 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 5/2017 ước tính đạt 18,0 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 82,0 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 32,4 tỷ USD, tăng 18,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 49,6 tỷ USD, tăng 27,5%.

Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 14,9 tỷ USD, tăng 38,8%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 13,3 tỷ USD, tăng 27,5%; điện thoại và linh kiện đạt 5 tỷ USD, tăng 23,4%; sắt thép đạt 4,1 tỷ USD, tăng 36% (lượng giảm 10,8%); chất dẻo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 25,5% (lượng tăng 13,5%); kim loại thường đạt 2,2 tỷ USD, tăng 19,8% (lượng giảm 12,4%); sản phẩm chất dẻo đạt 2 tỷ USD, tăng 18,5%; sản phẩm hóa chất đạt 1,7 tỷ USD, tăng 18,1%; hóa chất đạt 1,6 tỷ USD, tăng 35,2%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,5 tỷ USD, tăng 23,8%.

Về thị trường nhập khẩu 5 tháng đầu năm: Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 22 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2016; tiếp đến là Hàn Quốc đạt 18,6 tỷ USD, tăng 51,9%; ASEAN đạt 11,1 tỷ USD, tăng 16,6%; Nhật Bản đạt 6,5 tỷ USD, tăng 15,5%; EU đạt 4,6 tỷ USD, tăng 13,9%; Hoa Kỳ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 22%.

Cán cân thương mại thực hiện tháng 4/2017 xuất siêu 186 triệu USD; tháng 5/2017 ước tính nhập siêu 800 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017 nhập siêu trên 2,7 tỷ USD, bằng 3,4% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,65 tỷ USD.

Thu hút vốn FDI chạm mốc hơn 12 tỷ USD trong tháng 5

Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 5/2017 ước tính đạt 23.049,7 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 5.145 tỷ đồng; vốn địa phương 17.904,7 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 88,8 nghìn tỷ đồng, bằng 30,6% kế hoạch năm và tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016.

Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) từ đầu năm đến thời điểm 20/5/2017 thu hút 939 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 5.595,4 triệu USD, tăng 3,5% về số dự án và giảm 26,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 437 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.742,9 triệu USD.

Trong 5 tháng đầu năm 2017 có 2.061 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 1.792 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 5 tháng đầu năm đạt 12.130,3 triệu USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng ước tính đạt 6,2 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016.

Lĩnh vực thu hút FDI nhiều: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.863,4 triệu USD, chiếm 51,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành khai khoáng đạt 1.279 triệu USD, chiếm 22,8%; các ngành còn lại đạt 1.453 triệu USD, chiếm 26%.

Quốc gia góp vốn FDI nhiều: Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 1.538,6 triệu USD, chiếm 27,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 1.259 triệu USD, chiếm 22,5%; Trung Quốc 756,6 triệu USD, chiếm 13,5%; Xin-ga-po 597,8 triệu USD, chiếm 10,7%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 322,4 triệu USD, chiếm 5,8%; CHLB Đức 321,7 triệu USD, chiếm 5,8%.

Tính đến 15/5, bội chi Ngân sách Nhà nước đạt 21,8 nghìn tỷ đồng

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2017 ước tính đạt 416,7 nghìn tỷ đồng, bằng 34,4% dự toán năm, trong đó:

– Thu nội địa 334,9 nghìn tỷ đồng, bằng 33,8%;

(Thu tiền sử dụng đất đạt 36,7 nghìn tỷ đồng, bằng 57,7% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 33,9 nghìn tỷ đồng, bằng 41,9%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 69,5 nghìn tỷ đồng, bằng 35,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 64,3 nghìn tỷ đồng, bằng 32%; thu thuế bảo vệ môi trường 12,7 nghìn tỷ đồng, bằng 28%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 69,2 nghìn tỷ đồng, bằng 24,1%).

– Thu từ dầu thô 16,6 nghìn tỷ đồng, bằng 43,4%;

– Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 65,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2017 ước tính đạt 438,5 nghìn tỷ đồng, bằng 31,5% dự toán năm, trong đó:

– Chi thường xuyên đạt 323,8 nghìn tỷ đồng, bằng 36,1%;

– Chi trả nợ lãi 41,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42%; riêng chi đầu tư phát triển mới đạt 72,4 nghìn tỷ đồng, bằng 20,3% dự toán năm.

Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2017 ước tính đạt 77,7 nghìn tỷ đồng, bằng 47,4% dự toán năm.

Hơn 50.500 doanh nghiệp mới được thành lập trong 5 tháng đầu năm

Trong tháng 5/2017, cả nước có 10.954 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 119,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% về số doanh nghiệp và tăng 17,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,9 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng, cả nước có 1.913 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2016; có 5.332 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 26,8%; có 628 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 28,9%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, cả nước có 50.534 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 485,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% về số doanh nghiệp và tăng 39% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 23%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 5 tháng đầu năm 2017 là 4.685 doanh nghiệp, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 19,5%). Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 5 tháng đầu năm là 32.148 doanh nghiệp, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số PMI sản xuất tháng 5 đạt 51,6 điểm, thấp nhất 14 tháng

Theo báo cáo mới công bố ngày 1/6 của Nikkei, chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (Purchasing Managers’ Index – PMI) của Việt Nam đã giảm từ 54,1 điểm của tháng trước xuống 51,6 điểm trong tháng 5. Mặc dù chỉ số tiếp tục cho thấy các điều kiện kinh doanh đã cải thiện trong lĩnh vực sản xuất, tốc độ cải thiện lại đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 3/2016.

Về sản lượng, một số công ty tiếp tục gia tăng sản xuất để đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới, trong khi nhiều công ty khác lại cho biết số lượng đơn đặt hàng mới của họ giảm và họ phải giảm sản lượng.

Tốc độ tăng đơn đặt hàng mới đã chậm lại trong tháng 5. Cả tổng số lượng đơn đặt hàng mới và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đều tăng yếu hơn nhiều so với tháng 4.

Xét về yếu tố việc làm tốc độ tuyển dụng đã tăng tháng thứ 14 liên tiếp nhưng tốc độ tăng lại là mức thấp nhất kể từ tháng 7 năm ngoái.

Về tồn kho, số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm làm tăng tồn kho hàng thành phẩm trong tháng 5 vì các hạng mục hàng hóa phải lưu kho thay vì chuyển giao cho khách hàng.

Một yếu tố lạc quan đó là tốc độ tăng chi phí đầu vào trong tháng 5 đã chậm lại tháng thứ hai liên tiếp và là tốc độ chậm nhất kể từ tháng 6 năm ngoái. Với chi phí tăng chậm lại và nhu cầu khách hàng có dấu hiệu yếu đi, các nhà sản xuất đã giảm giá cả đầu ra. Giá bán hàng đã giảm lần đầu tiên kể từ tháng 8-2016.

Kinh tế thế giới

Trong tháng 5/2017, có thêm các dấu hiệu cho thấy kinh tế thế giới đang lấy lại được đà tăng trưởng. Hầu hết các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc…) đều phục hồi tích cực, các chỉ số ngành chế tạo cải thiện, tỷ lệ thất nghiệp ở các nước phát triển đã giảm, giá một số hàng hóa bắt đầu phục hồi, thương mại toàn cầu đã khởi sắc hơn.

Các tổ chức quốc tế tiếp tục nâng dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2017-2018. Liên hợp quốc dự báo KTTG sẽ tăng trưởng 2,7% và 2,9% (so với mức 2,3% của năm 2016). Viện Nghiên cứu kinh tế- xã hội (NIESR, Anh) dự báo KTTG tăng trưởng 3,3% năm 2017 (cao hơn 0,2% điểm so với dự báo trước đây) và tiếp tục phục hồi trong năm 2018 với tăng trưởng 3,6%.

Lạm phát bắt đầu tăng ở hầu hết nền kinh tế phát triển, trừ Nhật Bản, phản ánh hoạt động kinh tế, sản xuất đang ấm lên và phục hồi giá dầu, năng lượng và một số hàng cơ bản. Có ý kiến dự báo lạm phát toàn cầu năm 2017 sẽ tăng 4,5%, mức cao nhất kể từ năm 2011.

Dòng vốn chảy vào các nước đang phát triển đầu năm 2017 phục hồi; nhiều nền kinh tế đang nổi ở Châu Á và Nam Mỹ ghi nhận dòng cổ phiếu và chứng khoán tăng mạnh.

Giá dầu trong tháng 5/2017 đã vượt mốc 50 USD/thùng, có xu hướng tăng nhẹ sau khi Mỹ và Ả rập Xê-út ủng hộ Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) xem xét gia hạn thoả thuận cắt giảm sản lượng dầu thêm 9 tháng (đến hết quý I/2018). IEA nhận định giá dầu sẽ tiếp tục phục hồi khi thị trường dầu đang tiến gần đến trạng thái cân bằng cung- cầu. Tuy nhiên, nhiều tổ chức quốc tế dự báo giá dầu ít khả năng tăng mạnh trong năm ít nhất 2 năm tới.

Tình hình một số nền kinh tế lớn

– Kinh tế Mỹ dự báo tăng trưởng 2,1% trong năm 2017-2018 (so với mức 1,6% năm 2016). Tiêu dùng, đầu tư trong nước, nhất là một số ngành khai khoáng, chế tạo phục hồi tích cực do hiệu ứng tích cực ban đầu của chính sách thúc đẩy sản xuất trong nước theo phương châm “mua hàng Mỹ, thuê người Mỹ”; tỷ lệ thất nghiệp tháng 4/2017 đã giảm còn 4,5%, mức thấp nhất trong 10 nămqua.

– Kinh tế khu vực đồng Euro dự báo tăng trưởng 1,7% năm 2017 và 1,8% năm 2018 (tăng 0,1% điểm so với dự báo đầu năm). Thất nghiệp tiếp tục giảm; một số nước (Đức, Séc…) có tỷ lệ thất nghiệp thấp, thậm chí đang thiếu lao động, nhưng một số nước (như Hy Lạp, Tây Ban Nha) thất nghiệp vẫn còn cao. Lạm phát tăng cao hơn nhiều các năm trước, dự báo tăng 1,6% năm 2017 (năm 2016 chỉ tăng 0,2%)…

– Nhật Bản duy trì đà phục hồi liên tục trong 5 quý với tăng trưởng 2,2% trong quý I/2017 nhờ chính sách vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng, hồi phục đầu tư tư nhân, thất nghiệp giảm dưới 3%.

– Trung Quốc sau khi tăng trưởng cao hơn dự báo trong quý I/2017 chủ yếu do hiệu ứng kích thích kinh tế với quy mô nhỏ, có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại; nhiều chỉ số kinh tế trong tháng 4/2017 thấp hơn dự báo. Với việc triển khai các chính sách tập trung vào giữ ổn định và duy trì tăng trưởng hợp lý trong năm có Đại hội Đảng, nhiều ý kiến dự báo Trung Quốc sẽ giữ được tăng trưởng 6,5% trong năm 2017.

Các nền kinh tế APEC trong giai đoạn 2017-2018 dự báo tăng trưởng 3,8%. Các nước Đông Á dự báo tăng trưởng 5,6% trong năm 2017-2018 với đầu tư và tiêu dùng trong nước là động lực chính. Ấn Độ dự báo tăng trưởng chậm lại, song vẫn ở mức cao 7,3% năm 2017 và 7,9% năm 2018. Indonesia và Malaysia tăng trưởng tích cực hơn nhờ phục hồi giá hàng hoá cơ bản.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

Phòng Giao Dịch tổng hợp

Cisco 352-001 Exam Download : ADVDESIGN

It s overwhelming, and it s also used. Both Yoko and Liu Haizhu were shocked by this mad bear. His father CCDE 352-001 was a senior intellectual and was a senior engineer in the early ADVDESIGN 1980s. Liu Haizhu certainly believes what he said, because he 352-001 Exam Download knows how good his Cisco 352-001 Exam Download master is when he http://www.passexamcert.com/352-001.html sees the skills Cisco 352-001 Exam Download of Erdongzi.

He is staring Cisco 352-001 Exam Download at Chen Yufeng. It is definitely 352-001 Exam Download not 352-001 Exam Download a day Cisco 352-001 Exam Download or two. After the waves of the Yangtze River, the waves will be pushed forward, and the opportunity is not given to the opponent. Whose is this My master. Liu Haizhu widened his eyes. Second brother, you have not ADVDESIGN promised me, don t fight with others Not fighting with people. When you go Cisco 352-001 Exam Download to work in the factory, do you go to work Well, wait Cisco 352-001 Exam Download a second, wait, anyway, I will give me a CCDE 352-001 fake in the factory anyway.

Although Zhong Chubo promised to ADVDESIGN bear all the losses of testking the Wu family, there was one young man in the 352-001 Exam Download family, but Cisco 352-001 Exam Download he CCDE 352-001 added a patient. It was really rare During the Great Depression, the Great Depression Cisco 352-001 Exam Download often created a nostalgic era, like a Russian folk song.