Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Báo cáo triển vọng ngành Than Việt Nam

29 Jun

Báo cáo triển vọng ngành Than Việt Nam

Từ giữa năm 2016, giá than thế giới bắt đầu phục hồi trở lại sau 5 năm giảm liên tục, từ mốc 50-58 USD/ tấn, đạt đỉnh cao nhất là 110 USD/ tấn và hiện tại đang giao động ở mốc 70-80 USD/ tấn. Mức giá này được cho là đã tiệm cận với giá bán than trong nước.

Theo tính toán của TKV, để khai thác được 1 tấn than lộ thiên hiện nay phải bóc xúc 10,7m3 đất đá. Với chi phí bình quân khoảng 80.000 đồng/m3 đất đá thì 1 tấn than phải chi phí 856.000 đồng tiền bóc xúc đất đá. Cộng với chi phí bơm nước, chi phí sàng tuyển, thuế tài nguyên… thì giá than thành phẩm sẽ khoảng gần 1,4 triệu đồng/tấn.

Theo diễn biến giá than thế giới, từ cuối năm 2016, TKV cũng đã thông báo điều chỉnh giá bán một số chủng loại than tại thị trường trong nước. Trong đó, than cám như 02-C1, 02-C2, 03-C3A/B và 7A/B/C được điều chỉnh tăng khoảng 6%.

Bên cạnh đó, trong năm 2017, cơ chế chính sách được cho là có nhiều thay đổi theo hướng có lợi cho ngành Than. Đặc biệt, để giảm lượng than tồn kho, vừa qua, Chính phủ đã chính thức cho phép TKV tăng sản lượng xuất khẩu đối với các loại than chất lượng cao mà hiện tại thị trường nội địa chưa có nhu cầu hoặc có nhu cầu rất thấp theo giai đoạn 2017-2020.

Trên cơ sở đó, TKV căn cứ vào tình hình sản xuất, tỷ lệ cung – cầu để cân đối sản lượng than xuất khẩu. Riêng năm 2017, Tập đoàn sẽ thực hiện xuất khẩu 2 triệu tấn than đá có nhiệt lượng cao tại khu vực Vàng Danh, Nam Mẫu.

Tình hình tiêu thụ cũng trở nên tích cực hơn khi ngành than được Chính phủ giao nhiệm vụ tăng cường sản xuất thêm 2 triệu tấn than để đóng góp vào tăng trưởng GDP cả nước.

Ngoài ra, bên cạnh việc ký kết hợp đồng tiêu thụ với đối tác nước ngoài thì thị trường trong nước đã có dấu hiệu tốt trở lại. Dự kiến trong năm nay, Tập đoàn sẽ tiêu thụ 36 triệu tấn than, tăng 1 triệu tấn so với năm 2016. Trong đó, tiêu thụ trong nước đạt trên 34 triệu tấn, xuất khẩu 2 triệu tấn than. 

Tổng số than tiêu thụ trong quý I/2017 đạt 8,6 triệu tấn, bằng 24% kế hoạch, bằng 103% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, than tiêu thụ trong nước đạt 8,4 triệu tấn, xuất khẩu đạt 185 ngàn tấn. Tồn kho than chỉ còn 9 triệu tấn cuối quý I/2017 (cuối năm 2016 tồn kho 12 triệu tấn).

NGÀNH THAN THẾ GIỚI

Tổng quan ngành than thế giới

Than được coi là nguồn năng lượng truyền thống và cơ bản, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trên thế giới. Trước đây, than được dùng làm nhiên liệu trong các máy hơi nước, đầu máy xe lửa; sau đó, than được dùng làm nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện, than được cốc hóa để làm nhiên liệu cho ngành luyện kim.

Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển từ nửa sau thế kỉ XIX. Sản lượng than khai thác được rất khác nhau giữa các thời kì, giữa các khu vực và các quốc gia, song nhìn chung, có xu hướng tăng lên về số lượng tuyệt đối. Trong vòng 50 năm qua, tốc độ tăng trung bình là 5.4%/năm, còn cao nhất vào thời kì 1950 – 1980 đạt 7%/năm. Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, mức tăng giảm xuống chỉ còn 1.5%/năm.  

Hàng năm có khoảng trên 4 triệu tấn than được khai thác, con số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở Châu Á, trong khi đó Châu Âu khai thác với tốc độ chậm dần.

Các nước khai thác nhiều nhất gồm: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nam Phi. Hầu hết các nước khai thác than cho nhu cầu tiều dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than cứng dành cho thị trường xuất khẩu. Lượng than khai thác được dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn, với Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lượng.

Thị trường than lớn nhất là châu Á, chiếm khoảng 54% lượng tiêu thụ toàn thế giới, trong đó nhu cầu chủ yếu đến từ Trung Quốc. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc là những nước nhập khẩu than lớn nhất thế giới.

Diễn biến giá than thế giới

Sau hơn 5 năm khủng hoảng, bắt đầu từ năm 2011, giá than thế giới liên tục giảm giá và trở thành mặt hàng ít được chú ý nhất trên thị trường. Tính đến đầu năm 2016, giá than thế giới đã giảm tới 75%, giao động quanh mốc 50-58 USD/ tấn. Nguyên nhân được cho là do nguồn cung vẫn dồi dào trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ than thế giới suy giảm, đặc biệt từ hai nước tiêu thụ than lớn nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ.

Tuy nhiên, kể từ giữa năm 2016, dưới tác động của nhiều yếu tố, giá than thế giới đã ghi nhận sự phục hồi đáng kể. Dữ liệu từ Trading Economics cho biết, giá than thế giới đã tăng đột biến trong những tháng cuối năm 2016, giá than cám tăng từ mức đáy 50 USD/ tấn, có lúc lên đến 110 USD/ tấn, và hiện tại đang giao động quanh mốc 70-80 USD/ tấn.

Đà phục hồi của giá than được cho là đến từ các nguyên nhân chính sau:

  • Trung Quốc chủ động cắt giảm công suất sản xuất than, giảm số ngày khai thác từ 330 ngày/ năm xuống còn 270 ngày/ năm, mục tiêu hạ công suất sản xuất than xuống 1 tỷ tấn/ năm cho tới 2020.
  • Tình hình thời tiết không ổn định, hiệu ứng Lanina xảy ra khiến môi trường ẩm ướt và nhiều mưa lũ khiến sản xuất đình trệ tại các khu mỏ than cám của Indonesia và than cốc của Úc.
  • Sản lượng tại Bắc Mỹ (nhà sản xuất thứ 4 thế giới) sụt giảm gần 50% trong 6 tháng/2016

Giá than tăng mạnh trái ngược hẳn với dự đoán trước đây của nhiều tổ chức lớn, như Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và Goldman Sachs – năm ngoái đã từng cho rằng kỷ nguyên vàng của than ở Trung Quốc dường như đã qua, đồng thời hạ dự đoán nhu cầu than thế giới từ nay đến năm 2020 bởi quá trình tái cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc, các chính sách của chính phủ nước này hướng tới ứng phó với những thách thức về môi trường sẽ tác động tới nhu cầu sử dụng than ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Do đó, việc Trung Quốc tăng mạnh nhập khẩu than là một điều bất ngờ.

Xu hướng ngành than thế giới

  • Ngừng phát triển ngành nhiệt điện than

Theo báo cáo khảo sát của Hệ thống giám sát các nhà máy điện than toàn cầu tháng 3/2017 (từ mạng lưới các nhà nghiên cứu toàn cầu CoalSwarm và tổ chức môi trường Sierra Club), xu hướng giảm sản xuất điện than trên thế giới bắt đầu từ năm 2013. Đáng kể nhất là giai đoạn từ tháng 1/2016 – 1/2017, trong đó, công suất điện than của nhóm dự án tiền xây dựng giảm 48%, nhóm dự án đã khởi công giảm 62%. Đặc biệt, công suất từ nhóm nhà máy bị tạm dừng hoạt động đã tăng 164%. Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là do chính phủ Trung Quốc và Ấn Độ – 2 quốc gia có lượng phát thải hàng đầu đã ban hành những biện pháp mạnh mẽ chưa từng có để hạn chế phát triển nhiệt điện than.

Tại Trung Quốc, tổng công suất điện than được cấp phép xây dựng trong năm 2016 đã giảm 85% so với 2015. Tháng 1/2017, Chính phủ Trung Quốc đã hủy bỏ 85 dự án nhà máy nhiệt điện than ở các giai đoạn khác nhau, sau khi ban hành kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016 – 2020) giới hạn công suất điện than của cả nước. Ngày 18/3 vừa qua, nhà máy nhiệt điện than cuối cùng ở thủ đô Bắc Kinh chính thức ngừng hoạt động. Bắc Kinh đã trở thành thành phố đầu tiên của Trung Quốc dựa hoàn toàn vào các nguồn năng lượng sạch như khí đốt tự nhiên hay gió để sản xuất điện.

Song song với Chính phủ Trung quốc, Ấn Độ cũng đang trong giai đoạn giảm phát triển điện than. Ít nhất đến năm 2027, Ấn Độ sẽ không tăng thêm công suất điện than ngoại trừ những dự án đang xây dựng. Ngoài ra, nước này cũng đang tham gia cuộc cách mạng năng lượng mặt trời, với mức đấu giá sản xuất điện thấp kỉ lục là 4,4 US cent/kWh. Chính phủ cũng đề xuất từ nay đến 2027 sẽ lắp đặt thêm 215 GW năng lượng tái tạo từ sinh khối, thủy điện nhỏ, năng lượng gió, hệ thống điện mặt trời phân tán…

  • Trung Quốc mạnh tay cắt giảm sản lượng than

Báo chí Trung Quốc cho hay các quan chức thuộc tỉnh Thiểm Tây- một trong những khu vực khai thác than lớn nhất Trung Quốc chiếm 1/4 tổng trữ lượng than của toàn nước, mới đây tuyên bố sẽ đình chỉ hoặc làm chậm tiến độ khai thác 120 triệu tấn than trong giai đoạn 2016-2020.  

Theo kế hoạch phát triển ngành công nghiệp than giai đoạn 2016-2020, Trung Quốc sẽ cắt giảm sản xuất than của các nhà máy đã lỗi thời khoảng 800 triệu tấn vào năm 2020 và tăng sử dụng than sạch khoảng 500 triệu tấn.

  • Diễn biến khó lường của giá than

Mặc dù giá than đang trên đà tăng trở lại, các  chuyên gia vẫn tỏ ra hoài nghi tình trạng thừa cung sẽ tái diễn. Trong đó, Goldman Sachs là một trong những ngân hàng đầu tiên dự báo về khả năng tái mở cửa khai thác khi ước tính số mỏ ngừng hoạt động trong năm 2013 đến 2015 tương đương khoảng 46 triệu tấn than và khoảng hơn 40% sản lượng đó sẽ được khai thác trở lại. Do đó, sự vận hành trở lại của các mỏ than lớn có thể thể đẩy giá than trở lại giảm giá bất cứ lúc nào.

Lưu ý rằng, giá than tăng trong những giai đoạn tăng trưởng xuất phát từ nhu cầu tiêu thụ lớn là Trung Quốc – đất nước tiêu thụ hơn 4 tỷ tấn than hàng năm, chiếm một nửa nhu cầu thế giới. Giá than đá thế giới cũng thực sự chỉ bật dậy trong những giai đoạn kinh tế Trung Quốc tăng trưởng “nóng”. Nhưng hiện tại, tăng trưởng kinh tế giảm tốc cộng với việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Trung Quốc từ chỗ ưu tiên các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng chuyển sang nền kinh tế dịch vụ đang khiến nhu cầu tiêu thụ than của nước này suy giảm.

NGÀNH THAN VIỆT NAM

Tổng quan ngành than Việt Nam

Ngành Than là ngành kinh tế chủ lực quan trọng của Việt Nam, bảo đảm nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp quan trọng như sản xuất điện, thép, xi măng, phân bón…; thu hút lượng lớn lao động và đem lại nguồn lợi nhuận không nhỏ cho đất nước.

Ngành than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 175 năm. Trong đó, dấu mốc quan trọng là khi Tổng Công ty Than Việt Nam được thành lập năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo giao vốn, giao tài nguyên, trữ lượng than cho Tổng công ty để chủ động thăm dò, khai thác và bảo vệ.

Năm 2005, Tổng Công ty Than Việt Nam và Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam được tổ chức lại dưới hình thức Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), hoạt động với các đơn vị thành viên theo mô hình công ty mẹ – công ty con.

Trữ lượng than của nước ta tập trung 67% tại Quảng Ninh. TKV hiện có khoảng 30 mỏ và các điểm khai thác lộ thiên trong đó có 5 mỏ có công suất từ 1 triệu tấn đến trên 3 triệu tấn/năm, gồm: Cao Sơn, Cọc Sáu, Hà Tu, Đèo Nai, Núi Béo. Có khoảng 20 mỏ khai thác hầm lò trong đó có 7 mỏ có công suât từ 1 triệu tấn trở lên là: Mạo Khê, Vàng Danh, Nam Mẫu, Hà lầm, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy.

Tập đoàn TKV giao cho các công ty con quản lý tài nguyên, trữ lượng than. Hàng năm, các công ty khai thác than cho Tập đoàn theo Hợp đồng giao nhận thầu khai thác, sàng tuyển than. Lợi nhuận của các công ty khai thác than chịu ảnh hưởng trực tiếp của định mức lợi nhuận do TKV quy định và gián tiếp bởi những yếu tố khác, gồm có sản lượng xuất khẩu, giá xuất khẩu và giá bán than trong nước (khoảng 3% doanh thu).

Quy trình khai thác và tiêu thụ than tại các công ty than Việt Nam  

  1. Thăm dò tài nguyên: Công ty chủ động xây dựng phương án thăm dò khai thác than và trình Tập đoàn phê duyệt. Sau khi được Tập đoàn phê duyệt và cấp vốn, Công ty sẽ tiến hành thăm dò, tìm nguồn than mới.
  2. Thiết kế khai thác: Sau khi thăm dò thành công nguồn than, Công ty xây dựng, thiết kế kế hoạch khai thác trình Tập đoàn phê duyệt.
    • Xây dựng cơ bản:
    • Đối với khai thác hầm lò: Thi công đào đường mở vỉa, hình thành các lò chợ khấu than
  3. Đối với khai thác lộ thiên: Mở vỉa bằng đường hào để tiếp cận các vỉa than, hình thành các gương xúc than
  4. Khoan nổ mìn: Nguồn than nằm sâu trong lòng đất đòi hỏi công ty phải khoan nổ bằng mìn để bóc tách lớp đất đá bao phủ.
  5. Bốc xúc đất đá, than nguyên khai: Sau khi công đoạn khoan nổ, lớp đất đá bóc tách sẽ được bốc xúc để lộ ra nguồn than.
  6. Vận tải than – đất: Than sau đó sẽ được chuyển đến nhà máy sàng để thực hiện sàng tuyển, chế biến thành từng loại theo yêu cầu của khách hàng.
  7. Tiêu thụ: Than thành phẩm sẽ được đem đi lưu kho hoặc vận chuyển đến tới khách hàng theo hợp đồng đã ký kết.

Tình hình sản xuất kinh doanh than

Thời gian qua, ngành than liên tục gặp nhiều khó khăn do khai thác hầm lò ngày càng xuống sâu, chi phí sản xuất và thuế tăng cao, tiêu thụ than chậm dẫn đến tồn kho lớn,…

  • Điều kiện khai thác ngày càng khó khăn

Trải qua quá trình khai thác lâu dài, việc khai thác than đang càng ngày càng khó khăn, bởi điều kiện sản xuất của các mỏ hiện nay đã xuống sâu -300m so với mặt nước biển và tỷ lệ than lộ thiên so với than hầm lò chiếm 50-60%. Các mỏ than lộ thiên, hệ số bóc đất đá và cung độ tăng nhanh, phức tạp, cần phải có sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất và trang thiết bị.

Bên cạnh đó, mặc dù năng suất lao động chung đã được cải thiện nhiều, song thực tế vẫn còn ở mức thấp so với một số nước trong khu vực. Đội ngũ cán bộ, công nhân viên của ngành Than còn thiếu và yếu. Lực lượng lao động trực tiếp (thợ lò), chưa được đào tạo một cách toàn diện về kỹ năng và lòng yêu nghề, cùng với đó môi trường lao động nghề mỏ nặng nhọc độc hại, các chính sách đãi ngộ chưa tương xứng… dẫn đến thợ lò bỏ việc ngày càng nhiều.

  • Gánh nặng thuế phí tăng cao

Từ ngày 1/7/2016, thuế tài nguyên môi trường đối với doanh nghiệp than tăng từ 9% lên 12%. Thuế và phí của ngành than tăng đạt mức kỷ lục, chiếm tới 16% giá thành, trong khi thế giới không quá 12%. Bên cạnh đó, thuế suất thuế nhập khẩu than lại được ưu ái ở mức 0% khiến than trong nước gặp khó khi cạnh trạnh về giá với than nhập khẩu.

Với mức phí này, theo ông Nguyễn Ngọc Cơ, Phó tổng giám đốc TKV, chi phí của TKV sẽ tăng xấp xỉ trên 1,300 tỉ đồng/năm. Chưa kể, tới đây phí môi trường sẽ được tính cộng thêm lượng đất đá thải ra trên tấn than khai thác, nếu vậy TKV sẽ phải nộp thêm 70 tỉ đồng/năm cho loại hình đất đá thải này. Theo tính toán của ngành than, với mức tính thuế này, 6 tháng cuối năm 2016, TKV sẽ phải nộp thuế tài nguyên tăng thêm 731 tỉ đồng và từ năm 2017 sẽ tăng lên 1,500 tỉ đồng/năm.

  • Tồn kho giảm nhưng vẫn vượt định mức

Bắt đầu từ 2013, ngành than đã có dấu hiệu mất cân bằng trong sản xuất và tiêu thụ, tồn kho than liên tục tăng cao. Đặc biệt trong năm 2016, khi TKV đã phải cắt giảm 3 triệu tấn than trong kế hoạch sản xuất, tồn kho cuối năm vẫn xấp xỉ con số 12 triệu tấn. Nguyên nhân chính khiến TKV tồn than trong thời gian qua là do giá bán than trong nước cao hơn giá than thế giới và một số loại than chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước.

Từ đầu năm 2017, cùng với sự phục hồi của giá than thế giới, để giảm lượng than tồn kho, Chính phủ đã cho phép TKV tăng sản lượng xuất khẩu đối với các loại than chất lượng cao mà hiện tại thị trường nội địa chưa có nhu cầu hoặc có nhu cầu rất thấp trong giai đoạn 2017-2020. Cùng với sự nỗ lực của ngành than, than tồn kho cuối quý I/2017 đã giảm hơn 3 triệu tấn, chỉ còn khoảng 9.3 triệu tấn. Tuy nhiên, đây vẫn là mức tồn kho dư thừa so với mức tồn kho quy định (khoảng 8-9 triệu tấn, tùy theo thời điểm). 

  • Tiêu thụ than có dấu hiệu tích cực

Giai đoạn 2011 – 2016, lượng than tiêu thụ ở Việt Nam tăng rất nhanh, tốc độ tăng bình quân là 14.74%/năm. Năm 2011 lượng than tiêu thụ đạt 30.5 triệu tấn; năm 2012 tăng lên 31 triệu tấn; năm 2013 tăng lên 31.3 triệu tấn; năm 2014 là 34.5 triệu tấn; năm 2015 là 40 triệu tấn; năm 2016 đạt 48 triệu tấn.

Trong năm 2017, tình hình tiêu thụ than bắt đầu có tín hiệu tốt từ tháng 3. Tổng số than tiêu thụ trong quý I đạt 8,6 triệu tấn, bằng 24% kế hoạch, bằng 103% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, than tiêu thụ trong nước đạt 8,4 triệu tấn, xuất khẩu đạt 185 ngàn tấn. Doanh thu từ than đạt gần 13 ngàn tỷ đồng. Trong những ngày đầu tháng 4, bình quân mỗi ngày Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam tiêu thụ được từ 100.000 – 120.000 tấn.

Trong quý II/2017 và thời gian tới, Tập đoàn vẫn tập trung chỉ đạo điều hành sản xuất theo nhu cầu thị trường, đầu tư hợp lý phát triển bền vững các ngành nghề than, khoáng sản, điện lực; Tiếp tục hoàn thiện tái cơ cấu, trọng tâm là tái cơ cấu kỹ thuật, đổi mới công nghệ; Hoàn thiện tổ chức, cơ chế quản lý, tinh giản lao động để tăng năng suất, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm…

Tình hình xuất nhập khẩu than

  • Giai đoạn 2009-2016: Xu hướng giảm xuất khẩu và gia tăng nhập khẩu than đá

Trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2016, xuất nhập khẩu than đá diễn biến ngược chiều nhau. Trong khi sản lượng xuất khẩu than giảm rõ rệt từ 25 triệu tấn (năm 2009) chỉ còn 1.28 triệu tấn (năm 2016), sản lượng than nhập khẩu bắt đầu tăng từ 0.26 triệu tấn (năm 2013) lên đến 13.33 triệu tấn (năm 2016).

Diễn biến giảm xuất khẩu than đá được cho là phù hợp với định hướng hạn chế xuất khẩu của Chính phủ để đảm bảo an ninh năng lượng, phục vụ nhu cầu trong nước ngày càng lớn. Bên cạnh đó, giá bán than của TKV ở mức cao, thiếu cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Xu hướng nhập khẩu than tăng nhanh trong những năm gần đây do giá than nhập khẩu thấp hơn giá than trong nước và loại than trong nước chưa đáp ứng được hết nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. Do đó ngành than tồn tại nghịch lý nhập khẩu than gia tăng trong khi tồn kho sản xuất trong nước lớn.

  • Từ đầu năm 2017: Xuất khẩu than đá tăng đột biến

Để giảm lượng than tồn kho trong nước, vừa qua, Chính phủ đã chính thức cho phép TKV tăng sản lượng xuất khẩu đối với các loại than chất lượng cao mà hiện tại thị trường nội địa chưa có nhu cầu hoặc có nhu cầu rất thấp giai đoạn 2017-2020. Theo đó lượng than xuất khẩu từ đầu năm đến nay đã tăng đột biến cùng đà tăng với than nhập khẩu. Những loại than nhập khẩu hầu hết là do Việt Nam chưa tự sản xuất ra được còn than xuất khẩu vừa dư thừa và sử dụng với hiệu quả thấp.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Xuất khẩu than trong 5 tháng đầu năm 2017 tăng vọt 2.5 lần so với cùng kỳ năm ngoái đạt 877,137 tấn, trị giá 128.09 triệu USD. Than đá trở thành mặt hàng có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Về thị trường xuất khẩu, Nhật Bản dẫn đầu thị trường tiêu thụ than đá của Việt Nam với 477,946 tấn chiếm tới hơn 1 nửa số than đá xuất khẩu của cả nước với kim ngạch đạt 62.5 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng than nhập khẩu của Nhật Bản tăng 91.8%. Trong khi Trung Quốc chỉ nhập khẩu 4,923 tấn trị giá 353.3 nghìn USD.  

Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu 5.5 triệu tấn than đá, trị giá 2.6 triệu USD, giảm 4.7% về lượng nhưng lại tăng 58.3% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường nhập than chính của Việt Nam vẫn là Indonesia, Australia, Nga, Trung Quốc.

Quy hoạch ngành than

Ngành than được định hướng ưu tiên đáp ứng nhu cầu trong nước; giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng… Ngày 31/8/2016, Bộ Công Thương đã công bố điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 với các nội dung:

  • Nhu cầu vốn đầu tư cho ngành than bình quân khoảng 17,930 tỷ đồng/năm; trong đó, giai đoạn đến năm 2020 là khoảng hơn 95,000 tỷ đồng; giai đoạn 2021-2030 hơn 172,000 tỷ đồng. Nguồn vốn này chủ yếu tập trung cho đầu tư mới và cải tạo mở rộng các khu mỏ, đầu tư công nghệ thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng than tiên tiến…
  • Về khai thác than, sản lượng than thương phẩm sản xuất toàn ngành than trong các giai đoạn của quy hoạch khoảng 41-44 triệu tấn vào năm 2016; 47-50 triệu tấn vào năm 2020; 51-54 triệu tấn vào năm 2025 và 55-57 triệu tấn vào năm 2030.
  • Ngành than phải giảm tỷ lệ tổn thất than khai thác bằng phương pháp hầm lò xuống khoảng 20% vào năm 2020 và dưới 20% sau năm 2020; tỷ lệ tổn thất than khai thác bằng phương pháp lộ thiên xuống khoảng 5% vào năm 2020 và dưới 5% sau năm 2020…

CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT

Hiện tại, ngành khai thác than có 8 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX. Do đặc thù của ngành, các doanh nghiệp này đều do Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) nắm giữ trên 51% vốn cổ phần và chi phối hoạt động kinh doanh.

Các doanh nghiệp ngành than sẽ sản xuất theo kế hoạch được TKV giao và nhận về lợi nhuận theo định mức (khoảng 3% doanh thu). Do đó rủi ro cũng như lợi nhuận từ biến động giá than thế giới sẽ dồn về cho công ty mẹ là Tập đoàn TKV.

Lợi nhuận từ các doanh nghiệp than chỉ được kỳ vọng từ việc tăng sản xuất, tiêu thụ và giảm tồn kho của ngành. Đặc biệt, vừa qua Chính phủ đã chính thức cho phép TKV tăng sản lượng xuất khẩu đối với các loại than chất lượng cao mà hiện tại thị trường nội địa chưa có nhu cầu hoặc có nhu cầu rất thấp theo giai đoạn 2017-2020. Riêng năm 2017, Tập đoàn sẽ thực hiện xuất khẩu 2 triệu tấn than đá có nhiệt lượng cao tại khu vực Vàng Danh, Nam Mẫu.

Tình hình khai thác tại các mỏ than

  • Than Vàng Danh (TVD)

Vàng Danh là một đơn vị mỏ hầm lò lớn nhất TKV hiện nay với sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn/năm. Hiện tại, Vàng Danh vẫn là khu vực có chất lượng tài nguyên than tốt nhất. Về trữ lượng tài nguyên các dự án đã lập, tính từ lộ vỉa xuống -175, Vàng Danh có khoảng 100 triệu tấn than. Hiện đơn vị đang thăm dò xuống -350m. Với trữ lượng đã thấy và công suất mỏ hiện nay có thể tồn tại 20 năm nữa. Các khu vực khác sẽ tiếp tục thăm dò bổ sung.

  • Than Núi Béo (NBC)

Núi Béo là một trong những công ty khai thác mỏ hàng đầu của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam. Trữ lượng còn lại của NBC là 80 triệu tấn trong đó 24 triệu tấn là lộ thiên. Tuy nhiên, trữ lượng than lộ thiên ngày càng cạn kiệt, nên hiện tại Công ty đang duy trì khai thác lộ thiên với sản lượng hàng năm từ 500.000 đến 700.000 tấn. Tháng 5/2017, Núi Béo vừa đưa vào khai thác một phần dự án than hầm lò để khai thác nốt 51 triệu tấn than nguyên khai còn lại với công suất 2 triệu tấn than/năm. Tuổi đời của mỏ dự tính là 30 năm.

  • Than Cọc Sáu (TC6)

Với trên 100 năm khai thác, hiện nay trữ lượng còn lại của TC6 là không nhiều, chỉ còn khoảng 33 triệu tấn. Thời gian khai thác còn lại khoảng từ 8 – 10 năm, TC6 không được đánh giá cao về tiềm năng do trữ lượng các mỏ than đã gần cạn kiệt. 

  • Than Đèo Nai (TDN)

Than Đèo Nai có mỏ than lộ thiên trữ lượng lớn, còn khoảng 60 triệu tấn, đủ để công ty hoạt động với công suất 2,7-2,8 triệu tấn/ năm trong vòng 20 năm nữa. Đây được cho là lợi thế giúp TDN có thể giữ vững doanh thu và mức lợi nhuận trong nhiều năm khi mà các công ty than lộ thiên khác đang cạn kiệt nguồn than.

  • Than Cao Sơn (TCS)

Đây là một trong những mỏ than lộ thiên được đánh giá khá cao về chất lượng than và trữ lượng dồi dào khoảng 170 triệu tấn (đủ khai thác trong 70 năm nữa). Công suất khác thác của TCS đạt hơn 3 triệu tấn/ năm. Dự kiến sau khi cải tạo mỏ, TCS sẽ đạt công suất 5 triệu tấn/ năm từ năm 2020.

  • Than Hà Lầm (HLC)

Than Hà Lầm là mỏ than khai thác hầm lò có trữ lượng than dồi dào (còn khoảng 120 triệu tấn từ độ sâu 50m đến 570m). Công suất khai thác hiện tại của HLC đạt 2,6 triệu tấn/năm.  Than Hà Lầm được đánh giá là có hệ thống khai thác đồng bộ, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm năng cao năng suất lao động.

  • Than Hà Tu (THT)

Than Hà Tu là mỏ khai thác lộ thiên có các chỉ tiêu sinh lời khá tốt. Tuy nhiên, THT được đánh giá là không còn nhiều tiềm năng để tăng trưởng do trữ lượng khai thác không còn nhiều. Hiện công ty đã khai thác được trên 100 năm, trữ lượng còn lại chỉ khoảng 25 triệu tấn. Công suất khai thác của Công ty đạt khoảng hơn 2 triệu tấn/ năm.

DCIM100MEDIADJI_0033.JPG
  • Than Mông Dương (MDC)

Mông Dương đang chuyển dần từ khai thác lộ thiên sang khai thác hầm lò với trữ lượng khoảng 84 triệu tấn. Công suất khai thác của Công ty khoảng 2 triệu tấn mỗi năm. Trong năm 2016, MDC khai thác được 1,3 triệu tấn trong đó 1,2 triệu tấn là khai thác hầm lò.

CỔ PHIẾU NỔI BẬT

  • NBC: CTCP Than Núi Béo – Vinacomin (HNX)

Các cổ phiếu ngành than có rủi ro chung là tính thanh khoản thấp. Trong đó NBC, THT và TC6 có thanh khoản tốt hơn các cổ phiếu khác cùng ngành.

Núi Béo là mỏ than có trữ lượng dồi dào, có tiềm năng mở rộng cao. Hiện tại Núi Béo đang chuyển dịch từ khai thác lộ thiên sang khai thác hầm lò.

Về tình hình kinh doanh, NBC có nhiều điểm sáng hơn khi lợi nhuận, các chỉ số đánh giá khả năng sinh lời tốt hơn. Kỳ vọng trong năm 2017, khi Tập đoàn đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ để giảm lượng hàng tồn kho, NBC sẽ có kết quả kinh doanh tích cực.

Doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành than hầu như suy giảm trong năm 2016 do giá than thế giới giảm sâu, nhập khẩu than gia tăng, khai thác và tiêu thụ than trong nước đình trệ.

Các doanh nghiệp có doanh thu năm 2016 lớn nhất là TCS (4,253 tỷ đồng), TC6 (3,855 tỷ đồng) và TVD (3,310 tỷ đồng). Tuy nhiên, các doanh nghiệp có lợi nhuận lớn nhất là HLC (43 tỷ đồng), NBC (51 tỷ đồng), TVD (30 tỷ đồng).

Kế hoạch 2017

HLC và NBC có biên lợi nhuận gộp cao nhất, tương ứng là 20% và 19% cho thấy quá trình khai thác tại mỏ Hà Lầm và Núi Béo khá hiệu quả, tiết giảm chi phí tốt nhất. Sau đó là đến TVD (15%), MDC (15%).

NBC có biên lợi nhuận ròng cao nhất là 3%, sau đó là HLC đạt 2%, còn TVD, THT và MDC có biên lợi nhuận ròng là 1%.

NBC cũng là doanh nghiệp có EPS năm 2016 là 1,046 đồng, cao nhất trong ngành, sau đó là THT (993 đồng), HLC (961 đồng).

HLC có tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) khá tốt, đạt 14%, nhưng tỷ lệ sinh lời trên tài sản (ROA) chỉ đạt mức trung bình là 1%. THT có ROA tốt nhất là 4%, ROE là 9%. NBC cũng có tỷ lệ sinh lời nằm trong nhóm đầu ngành với ROA là 2% và ROE là 9%.

Cơ cấu nguồn vốn

Trong số các doanh nghiệp niêm yết, HLC có quy mô lớn nhất với tổng tài sản là 4,180 tỷ đồng. THT có quy mô tài sản thấp nhất (658 tỷ đồng).

Các doanh nghiệp ngành than đều có tỷ trọng Nợ/ Tổng tài sản cao. Trong đó, HLC có tỷ trọng nợ cao nhất (93% tổng tài sản), THT có tỷ trọng nợ thấp nhất (57% tổng tài sản).

Các doanh nghiệp ngành than đều có chỉ số khả năng thanh toán thấp, đều dưới 1.

Hàng tồn kho

Từ năm 2014, tỷ lệ hàng tồn kho của các doanh nghiệp đều có xu hướng tăng cao. Trong đó, NBCTVD có tỷ lệ tăng cao nhất. Tỷ lệ Hàng tồn kho/ Doanh thu của NBC tăng từ 4.55% (năm 2012) lên tới 22.86% (năm 2016). Tỷ lệ Hàng tồn kho/ Doanh thu của TVD tăng từ 4.15% (năm 2012) lên tới 17.04% (năm 2016).

Trong năm 2017, các doanh nghiệp ngành than kỳ vọng kết quả kinh doanh tốt, đặt biệt là NBC và TVD đang có tỷ lệ tồn kho cao khi Tập đoàn than chủ trương đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ hàng tồn kho và việc Chính phủ cho phép tăng xuất khẩu than.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

Phòng Giao Dịch tổng hợp