Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Kinh tế vĩ mô 9 tháng đầu năm 2017

04 Oct

Kinh tế vĩ mô 9 tháng đầu năm 2017

Tình hình kinh tế trong tháng 9/2017 tiếp tục có diễn biến tích cực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong cả năm 2017

KINH TẾ TRONG NƯỚC

Tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm 2017 đạt 6.41%

Tăng trưởng kinh tế trong 3 quý đầu năm 2017 ước đạt 6,41%, trong đó quý I tăng 5,15%, quý II tăng 6,28% và ước tính quý III tăng 7,46%. Mức tăng trưởng của 9 tháng năm nay cao hơn mức tăng 5,99% của cùng kỳ năm 2016, và là tín hiệu tích cực để nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng 6,7% của cả năm 2017. Cụ thể:

– Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm vào mức tăng chung;

– Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,17%, đóng góp 2,45 điểm phần trăm;

– Khu vực dịch vụ tăng 7,25%, đóng góp 2,80 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,50%; khu vực dịch vụ chiếm 42,67%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,17% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 15,52%; 32,52%; 41,77%; 10,19%).

Về góc độ sử dụng GDP 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,30% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 8,76 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp lớn nhất với 8,02 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 9,80%, đóng góp 4,78 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 7,13 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0.59% so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2017 tăng 0,59% so với tháng trước; tăng 1,83% so với tháng 12/2016 và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2017 tăng 3,79% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Lạm phát cơ bản tháng 9/2017 tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 1,32% so với cùng kỳ năm 2016. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2017 tăng 1,45% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Một số yếu tố tác động tăng CPI trong 9 tháng:

– Các địa phương điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế.

– Một số địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí.

– Các mặt hàng thiết yếu trên như nhiên liệu, chất đốt, sắt thép tăng giá trở lại trong 9 tháng năm 2017 làm chỉ số giá xuất, nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước.

Một số yếu tố kiềm chế CPI trong 9 tháng:

– Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 2,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá thịt lợn liên tục giảm mạnh do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu thu mua thịt lợn xuất khẩu sang Trung Quốc giảm.

Chỉ số giá vàng tháng 9/2017 tăng 2,61% so với tháng trước; tăng 6,12% so với tháng 12/2016; tăng 0,55% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2017 tăng 0,03% so với tháng trước; giảm 0,03% so với tháng 12/2016 và tăng 1,78% so với cùng kỳ năm 2016.

Lãi suất cho vay giảm, tăng trưởng tín dụng nền kinh tế đạt 11.02%

Tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng tốt thể hiện xu hướng phát triển tích cực và khả năng hấp thụ vốn tương đối tốt của nền kinh tế. Tính đến thời điểm 20/9/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 9,59% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 11,76%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 10,08% (cùng kỳ năm 2016 tăng 12,02%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 11,02% (cùng kỳ năm trước tăng 10,46%).

Ngân hàng Nhà nước đã giảm lãi suất điều hành thêm 0,25% từ ngày 10/7/2017, và thực hiện các giải pháp hỗ trợ giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ.

– Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên được các ngân hàng giảm 0,5%/năm;

– Các khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh được giảm 0,5%-1%/năm;

– Giảm lãi suất một số chương trình cho vay trung và dài hạn đối với lĩnh vực ưu tiên xuống còn 8%/năm;

– Tích cực triển khai các chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi cho các ngành thiết yếu trong phát triển kinh tế và an sinh xã hội;

– Nhóm khách hàng có tình hình tài chính minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4%-5%/năm.

Thị trường bảo hiểm duy trì mức tăng trưởng tích cực trong 9 tháng đầu năm. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng ước tính tăng 18% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng trên 22%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng 7.9% so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng 9/2017 ước tính tăng 13,2%  so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2017, chỉ số IIP tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước (Trong đó: Quý I tăng 3,9%; quý II tăng8,1%; quý III ước tính tăng 9,7%), cao hơn mức tăng 7,1% của cùng kỳ năm 2016 và mức tăng 7,2% của 8 tháng năm nay.

– Ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%, đây là mức tăng cao nhất của ngành này trong nhiều năm qua, đóng góp 9 điểm phần trăm vào mức tăng chung;

– Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,9%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm;

– Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm;

– Ngành khai khoáng giảm mạnh 8,1%, làm giảm 1,8 điểm phần trăm mức tăng chung.

Một số sản phẩm sản xuất tăng cao trong 9 tháng: Ti vi tăng 31,6%; sắt, thép thô tăng 28%; thép cán tăng 23,2%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 16,8%; phân urê tăng 15,9%.

Một số sản phẩm sản xuất giảm trong 9 tháng: Ô tô giảm 4,2%; khí đốt thiên nhiên giảm 10%; dầu thô khai thác giảm 11,1%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 11,7%.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/9/2017 tăng 9,9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2016 tăng 9%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 8 tháng năm 2017 là 65,5% (cùng kỳ năm trước là 68,4%).

Xuất khẩu tăng cao, nhập siêu 9 tháng đầu năm chỉ còn 442 triệu USD

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 8/2017 đạt 19.767 triệu USD, là tháng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay, cao hơn 1.567 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2017 ước tính đạt 19 tỷ USD, giảm 3,9% so với tháng trước nhưng tiếp tục tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung 9 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 154 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

– Khu vực kinh tế trong nước ạt 43,2 tỷ USD, tăng 16,8%;

– Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 110,8 tỷ USD, tăng 21%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 9 tháng, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 31,2 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2016. Tiếp đến là EU đạt 28,4 tỷ USD, tăng 15,8%. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 21,9 tỷ USD, là thị trường có tốc độ tăng cao nhất với 44,7%. Thị trường ASEAN đạt 16 tỷ USD, tăng 26,1%. Thị trường Nhật Bản đạt 12,5 tỷ USD, tăng 17,2%; Hàn Quốc đạt 10,6 tỷ USD, tăng 27,3%. Thị trường Thái Lan đạt 3,5 tỷ USD, tăng 28,7%.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm nay, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 76,8 tỷ USD, tăng 24,3% và chiếm 49,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2016); nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 56,8 tỷ USD, tăng 14,8% và chiếm 36,8% (giảm 1,6 điểm phần trăm); nhóm hàng nông, lâm sản đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,9% và chiếm 9,4% (giảm 0,2 điểm phần trăm) và hàng thủy sản đạt 6 tỷ USD, tăng 19,2% và chiếm 3,9% (cơ cấu không đổi so với cùng kỳ năm 2016).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 8/2017 đạt 18.181 triệu USD, cao hơn 381 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9 ước đạt 18,6 tỷ USD, tăng 2,3% so với tháng trước, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2017, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 154,5 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

– Khu vực kinh tế trong nước đạt 61,3 tỷ USD, tăng 18,7%;

– Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 93,2 tỷ USD, tăng 26,1%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm nay, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 41,6 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Hàn Quốc với 33,9 tỷ USD, tăng 46,5%. Nhập khẩu từ thị trường ASEAN đạt 20,6 tỷ USD, tăng 19,7%. Nhật Bản đạt 11,8 tỷ USD, tăng 8,2%. EU đạt 9,1 tỷ USD, tăng 13,3%. Thái Lan đạt 7,5 tỷ USD, tăng 21,4%. Hoa Kỳ đạt 6,9 tỷ USD, tăng 16,3%.

Về cơ cấu hàng nhập khẩu 9 tháng năm nay, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 141,3 tỷ USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ 2016 và chiếm 91,5% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2016). Nhóm hàng tiêu dùng đạt 13,2 tỷ USD, tăng 17,9% và chiếm 8,5% (giảm 0,4 điểm phần trăm).

Cán cân thương mại

Do kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nên cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 8/2017 xuất siêu 1.586 triệu USD (cao hơn ước tính 1.186 triệu USD).

Tháng 9 ước tính xuất siêu 400 triệu USD, tính chung 9 tháng năm 2017 nhập siêu 442 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 18,08 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,64 tỷ USD.

Đáng lưu ý là nhập siêu từ Hàn Quốc 9 tháng năm 2017 lên tới 23,3 tỷ USD, tăng 57,7% so với cùng kỳ 2016, là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam; tiếp đến là nhập siêu từ Trung Quốc với 19,7 tỷ USD, giảm 5,6%.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 9 tháng ước đạt 25.5 tỷ USD, tăng 34.3% 

Tính đến thời điểm 20/9/2017, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký cấp mới và tăng thêm ước đạt 21,3 tỷ USD, tăng 29,7 % so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó:

– Đăng ký cấp mới đạt 14,6 tỷ USD với 1.844 dự án, tăng 30,4% về vốn đăng ký và 1,3% về số dự án so với cùng kỳ năm 2016.

– Đăng ký vốn tăng thêm đạt 6,8 tỷ USD, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước với 878 dự án.

Trong 9 tháng năm 2017 có 3.742 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,2 tỷ USD, tăng 64% so với cùng kỳ năm 2016. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 9 tháng đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 12,5 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Lĩnh vực thu hút FDI: Trong 9 tháng, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 5,4 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 5,3 tỷ USD, chiếm 36,5%; các ngành còn lại đạt 3,9 tỷ USD, chiếm 26,7%.

Quốc gia đầu tư FDI: Trong số 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 4.903,2 triệu USD, chiếm 33,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Singapore với 2.902,8 triệu USD, chiếm 19,9%; Hàn Quốc 2.304,9 triệu USD, chiếm 15,8%; Trung Quốc 1.281,7 triệu USD, chiếm 8,8%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 630,6 triệu USD, chiếm 4,3%; CHLB Đức 334,9 triệu USD, chiếm 2,3%.

Bội chi ngân sách nhà nước 40.4 nghìn tỷ trong 9 tháng đầu năm

Thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2017 ước tính đạt 786,3 nghìn tỷ đồng, bằng 64,9% dự toán năm, trong đó:

– Thu nội địa đạt 617,7 nghìn tỷ đồng, bằng 62,4% dự toán; (thu tiền sử dụng đất đạt 72,1 nghìn tỷ đồng, bằng 113,2% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 56,2 nghìn tỷ đồng, bằng 69,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 120,2 nghìn tỷ đồng, bằng 61,8%; thu thuế bảo vệ môi trường 27,8 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 111,4 nghìn tỷ đồng, bằng 55,4%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 137 nghìn tỷ đồng, bằng 47,8%)

– Thu từ dầu thô 31,8 nghìn tỷ đồng, bằng 83% dự toán;

– Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 134,6 nghìn tỷ đồng, bằng 74,8% dự toán.

Chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2017 ước tính đạt 851,5 nghìn tỷ đồng, bằng 61,2% dự toán năm, trong đó

– Chi thường xuyên đạt 623 nghìn tỷ đồng, bằng 69,5% dự toán;

– Chi đầu tư phát triển mới đạt 153 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 42,8% dự toán năm;

– Chi trả nợ lãi 72,4 nghìn tỷ đồng, bằng 73,2% dự toán;

– Chi trả nợ gốc ước tính đạt 128 nghìn tỷ đồng, bằng 78,1% dự toán năm.

Nhìn chung, tiến độ thu, chi ngân sách Nhà nước trong 9 tháng năm nay còn chậm

Số doanh nghiệp thành lập mới tháng 9 giảm do trùng với tháng 7 âm lịch

Trong tháng 9, cả nước có 8.610 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 80,6 nghìn tỷ đồng, giảm 30,6% về số doanh nghiệp và giảm 38,7% về số vốn đăng ký so với tháng trước do thời gian này trùng với tháng Bảy âm lịch, người dân có tâm lý hạn chế khởi sự kinh doanh.

Industry 4.0 and industrial internet of things concept with vector illustration of a connected digital world

Tính chung 9 tháng năm nay, cả nước có 93.967 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 902,7 nghìn tỷ đồng, tăng 15,4% về số doanh nghiệp và tăng 43,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 24,4%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 9 tháng năm 2017 là 8.736 doanh nghiệp, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 8.022 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,8%.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 9 tháng là 49.345 doanh nghiệp, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 18.499 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 13,5% và 30.846 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 7,1%.

KINH TẾ THẾ GIỚI

Tăng trưởng kinh tế: Kinh tế thế giới trong 3 quý đầu năm 2017đã tăng trưởng tích cực hơn năm 2016. Hầu hết các tổ chức quốc tế dự báo lạc quan tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2017-2018 có thể đạt 3,5-3,6%, trong đó các nước phát triển tăng  khoảng 2,0%, các nước đang phát triển tăng khoảng 4,6-4,8%.

Kinh tế Mỹ tăng trưởng cao nhất trong hai năm qua với 3% trong quý 2/2017 và dự báo tăng trưởng 3,4% trong quý 3/2017. Sau ba lần tăng lãi suất cơ bản từ đầu năm đến nay, việc Mỹ để ngỏ khả năng tiếp tục tăng lãi suất trong năm 2017 và rút hoàn toàn nới lỏng định lượng tiền tệ cho thấy kinh tế Mỹ vẫn đang trên đà phục hồi.

Nhật Bản tăng trưởng 0,6% trong quý 2 nhờ phục hồi xuất khẩu gia tăng, là chuỗi thời gian tăng trưởng kéo dài nhất trong hơn một thập kỷ qua.

Khu vực đồng Euro phục hồi tích cực nhờ nới lỏng tiền tệ và nỗ lực tái cơ cấu, xử lý khủng hoảng nợ công; nhiều chỉ số kinh tế tiếp tục cải thiện.

Trung Quốc nhiều khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5% năm 2017 (nửa đầu năm đã tăng trưởng 6,9%) nhờ tăng tín dụng, đầu tư vào các lĩnh vực  và nỗ lực cải cách trọng cung.

Nhiều nền kinh tế đang nổi khác tăng trưởng khởi sắc hơn với mức độ khác nhau, trong đó Ấn Độ tăng trưởng trên 7%; Philipine tăng trưởng 6,5%, Malaysia tăng 5,8%, Thái Lan tăng trưởng cao nhất trong 4 năm gần đây với 3,7%….

Thách thức tăng trưởng: Kinh tế thế giới còn chịu nhiều rủi ro đan xen lẫn nhau, trong đó nổi lên:

– Tăng trưởng của một số nền kinh tế lớn thiếu vững chắc như Mỹ có khả năng suy giảm tăng trưởng do thắt chặt tiền tệ, rủi ro tái phát khủng hoảng nợ của EU vẫn còn…;

– Điều chỉnh chính sách khó lường của một số nền kinh tế lớn, tiến trình Anh rời EU và đi sâu cải cách, tái cơ cấu kinh tế Trung Quốc tiềm ẩn rủi ro gây bất ổn kinh tế-tài chính toàn cầu;

– Căng thẳng địa-chính trị leo thang, đáng lưu ý như căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên nếu vượt kiểm soát, dẫn đến xung đột sẽ tác động hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới.

Thương mại toàn cầu tăng cao nhất trong 6 năm qua với tốc độ dự báo khoảng 4% (nửa đầu năm 2017 đã tăng 4,3%) nhờ giá hàng hóa ổn định, phục hồi tăng trưởng và cải thiện niềm tin kinh doanh ở nhiều nền kinh tế. Xuất nhập khẩu của các nền kinh tế đang nổi châu Á phục hồi tích cực nhất, đóng góp gần 70% mức tăng nhập khẩu toàn cầu. Nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất của Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản cũng cải thiện.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu dự báo tăng 5% và đạt 1.800 tỷ USD trong năm 2017 (năm 2016 chỉ tăng 2%), trong đó Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ thu hút nhiều FDI nhất. Theo khảo sát của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), giới đầu tư quốc tế tiếp tục duy trì niềm tin vào các nền kinh tế đang nổi ở châu Á. Các công ty Trung Quốc và Hàn Quốc đang đẩy mạnh đầu tư ra bên ngoài, trong khi các doanh nghiệp Nhật Bản có dấu hiệu giảm đầu tư ra bên ngoài.

Giá dầu từ đầu năm 2017 đến nay tương đối ổn định và phục hồi quanh mức 50 USD/thùng. Nhiều tổ chức quốc tế dự báo thị trường dầu thế giới đang tiến đến cân bằng, ít khả năng có biến động trong năm 2017-2018.

Tình trạng dư cung dầu giảm dần khi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) duy trì giảm sản lượng, có khả năng kéo dài thỏa thuận giảm sản lượng đến hết năm 2018.

Nhu cầu dầu ước tăng khoảng 1,6 triệu thùng/ngày lên 97,7 triệu thùng/ngày do phục hồi tăng trưởng kinh tế ở nhiều nền kinh tế lớn.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

 

 

Cisco 200-601 Cert Is The Best Material

House where the cost Managing Industrial Networking for Manufacturing with Cisco Technologies is not counted.Moreover, I really used to it blue car, the benefits of it Cisco 200-601 Cert more blue Cisco 200-601 Cert It is good 200-601 Cert to be able to entertain your four dishes with a blue lacquered chair. The Cisco 200-601 Cert capitalist government had also done this kind of thing and also made everybody know everything. Zeng Cisco 200-601 Cert Guofan suspiciously back to the site.After dinner, my colleagues, their men, CCNA Industrial 200-601 students, so officials, 200-601 Cert a full 32 people, all seated chair to visit him.

Director dumbfounding in the provincial capital is Cisco 200-601 Cert also Niu Niu used to the figure. On the television screen, eight people each pile in front of the chair.Luck Kau Tau High Squadron scene teach a few fake type. The feeling of shame, occupy my heart at the time.How can I be captured How can I lay down my small Managing Industrial Networking for Manufacturing with Cisco Technologies arms However, this is something I do not recognize. There are locations, there 200-601 Cert are so many warehouses too When a director of what the transition is not difficult. Cisco 200-601 Cert What is his value Is it suicide Still CCNA Industrial 200-601 alive Is suicide a hero 200-601 Cert Is it a shame to survive What is the value of Cisco 200-601 Cert people I really have no answer.

The sky is still very low, and Managing Industrial Networking for Manufacturing with Cisco Technologies the clouds seem to drift on the testking Cisco 200-601 Cert roof. These books are all used Cisco 200-601 Cert in my study. CCNA Industrial 200-601 I especially want to ask you, after you take power, always emphasize the struggle Why not give us peace 200-601 Cert Anti rightist, anti rightist, anti rightist, why do people become something that can be tried at any time