Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Kinh tế vĩ mô tháng 10/2017

08 Nov

Kinh tế vĩ mô tháng 10/2017

Tình hình kinh tế trong tháng 10/2017 tiếp tục có diễn biến tích cực. Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng vượt bậc. Môi trường kinh doanh được cải thiện.

Kinh tế trong nước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,41% so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2017 tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 2,25% so với tháng 12/2016 và tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng đầu năm tăng 3,71% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, trong phạm vi Quốc hội đề ra là dưới 4%.

Lạm phát cơ bản tháng 10/2017 tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm 2017 tăng 1,44% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Nhóm hàng tăng giá mạnh trong tháng 10/2017:

  • Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 2,14% (dịch vụ y tế tăng 2,79%) do có 9 tỉnh, thành phố điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế (tác động làm CPI tăng khoảng 0,11%);
  • Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,63%;
  • Giao thông tăng 0,61% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 20/9/2017, mặc dù trong tháng 10 giá xăng dầu có 2 đợt điều chỉnh giảm.

Nhóm hàng tăng giá thấp hơn trong tháng 10/2017:

  • Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%, trong đó lương thực tăng 0,57%; thực phẩm tăng 0,37%;
  • Giáo dục tăng 0,19% (dịch vụ giáo dục tăng 0,21%) do có 6 tỉnh thực hiện lộ trình tăng học phí;
  • May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,17%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,10%;
  • Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06%;
  • Nhóm đồ uống và thuốc lá và bưu chính viễn thông cùng tăng 0,01%;
  • Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2017 giảm 0,88% so với tháng trước; tăng 5,18% so với tháng 12/2016; tăng 1,39% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2017 giảm 0,03% so với tháng trước; giảm 0,07% so với tháng 12/2016 và tăng 1,67% so với cùng kỳ năm 2016.

Lãi suất cho vay giảm, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 12,69%

Tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tích cực. Tính đến ngày 20/10/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 11,11% so với tháng 12 năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 13,51%). Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tăng 11,57% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 13,96%). Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 12,69% so với tháng 12 năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 11,81%).

Mặt bằng lãi suất tương đối ổn định, lãi suất cho vay giảm dần nhờ việc điều chỉnh giảm lãi suất điều hành và lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên. Tỷ giá và thị trường ngoại hối ổn định. Dự trữ ngoại hối nhà nước tăng.

Thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển, chỉ số chung VN-Index sau khi vượt ngưỡng 800 điểm thời điểm đầu tháng, đến nay đã tăng gần 40 điểm. Tuy nhiên, thanh khoản yếu, thị trường tăng chủ yếu do các mã cổ phiếu có số vốn hóa lớn

Uỷ ban Châu Âu (EC) cảnh báo thẻ vàng với thuỷ sản đánh bắt trên biển từ Việt Nam

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào thu hoạch nốt vụ hè thu, chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc.

Tính đến trung tuần tháng 10, các địa phương trong cả nước đã thu hoạch được 2.104,5 nghìn ha lúa hè thu (giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước); năng suất ước tính đạt 54,5 tạ/ha (tăng 1,1%); sản lượng đạt 11,5 triệu tấn (tăng 1,1%).

Tính đến thời điểm 15/10/2017, cả nước gieo trồng được 81,5 nghìn ha ngô (giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước); 10,7 nghìn ha khoai lang (giảm 35,9%); 6,1 nghìn ha đậu tương (giảm 64,3%); 4,8 nghìn ha lạc (giảm 7,7%); 70,9 nghìn ha rau, đậu (giảm 16,9%).

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định, riêng chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn do giá thịt lợn vẫn ở mức thấp trong khi chi phí chăn nuôi không giảm. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,8%; đàn gia cầm tăng 5,5%; đàn lợn giảm 5,4%.

Về lâm nghiệp, tính chung 10 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 184 nghìn ha, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2016. Diện tích rừng bị thiệt hại là 1.366 ha, giảm 59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 471 ha, giảm 79,5%; diện tích rừng bị chặt, phá là 895 ha, giảm 12,9%.

Về thủy sản, sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 366,9 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước đạt 5.800,7 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.040,5 nghìn tấn, tăng 4,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.760,2 nghìn tấn, tăng 4,7%.

Vừa qua, ngày 23/10/2017, Ủy ban Châu Âu (EC) quyết định cảnh báo thẻ vàng với thủy sản đánh bắt trên biển từ Việt Nam do chưa thực hiện đầy đủ các khuyến nghị về việc tuân thủ quy định đấu tranh với các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (quy định IUU). Trong giai đoạn cảnh báo thẻ vàng, EC chưa đưa ra bất kỳ biện pháp nào ảnh hưởng đến thương mại giữa hai bên, tuy nhiên, các lô hàng hải sản khai thác nhập khẩu từ Việt Nam sẽ bị tăng tuần suất kiểm tra hồ sơ nguồn gốc. Thời gian cảnh báo thẻ vàng là 6 tháng, sau thời gian này trường hợp cảnh báo của EC không được thực hiện hoặc triển khai không hiệu quả, EC sẽ ban hành biện pháp thẻ đỏ, khi đó lệnh cấm xuất khẩu hải sản khai thác từ Việt Nam vào thị trường EU sẽ được áp dụng

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 17% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 10 tháng tăng 8,7% (cùng kỳ năm trước tăng 7,3%), trong đó:

  • Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục tăng cao, đạt mức 13,6% (cùng kỳ tăng 10,8%);
  • Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,3% (cùng kỳ tăng 12,2%);
  • Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,5% (cùng kỳ tăng 6,9%);
  • Ngành khai khoáng giảm 7,4% (cùng kỳ giảm 5,7%).

Một số ngành có chỉ số sản xuất 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 29,3% (tập trung ở sản xuất điện thoại di động thông minh giá trị cao và linh kiện điện tử xuất khẩu toàn cầu); sản xuất kim loại tăng 18,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,8%.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,1%; sản xuất trang phục tăng 5,7%; khai khoáng khác (chủ yếu khai thác đá, cát, sỏi) tăng 4%; khai thác than cứng và than non giảm 0,3%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 0,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 1%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 1,7%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,6%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/10/2017 tăng 8,8% so với cùng thời điểm năm trước, giảm so với mức tăng 9 tháng đầu năm (9,9%), tương đương với mức tăng cùng kỳ (8,9%).

Tình hình sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 10 tháng đầu năm 2017 như sau:

  • Ngành dầu khí: sản lượng khai thác dầu thô trong nước đạt 11,36 triệu tấn, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2016, bằng khoảng 80% kế hoạch năm (14,2 triệu tấn); sản lượng khí đạt 8,22 tỷ m3, giảm 8,0% so với cùng kỳ năm 2016, bằng 77,5% kế hoạch năm 2017 (10,61 tỷ m3).
  • Ngành than: sản lượng than đá (than sạch) ước đạt 31,5 triệu tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, sản xuất than sạch thành phẩm ước đạt 26,46 triệu tấn, giảm 6,7%, bằng 78,2% kế hoạch năm; than tiêu thụ đạt 26,89 triệu tấn, giảm 6,1%; tồn kho than sạch khoảng 9 triệu tấn.
  • Ngành điện: Sản lượng điện sản xuất và mua đạt 160.431 triệu kWh, tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước (trong đó điện sản xuất của Tập đoàn Điện lực Việt Nam tăng 19,24%). Điện thương phẩm đạt 144.919 triệu kWh, tăng 9,23%.

Cán cân thương mại được cải thiện, 10 tháng xuất siêu khoảng 1,2 tỷ USD

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 9/2017 19.342 triệu USD, cao hơn 342 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 10 ước đạt 19,4 tỷ USD, tăng 0,3% so với tháng trước.

Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 173,7 tỷ USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 125,5 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,2%, tăng 22,1%; khu vực kinh tế trong nước đạt 48,2 tỷ USD, tăng 17,2%.

Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu 10 tháng đầu năm: nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt khoảng 140,6 tỷ USD, chiếm 81% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 21,9%; nhóm hàng nông, lâm thủy sản đạt 21,3 tỷ USD, chiếm 12,3%, tăng 17,1%; nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản đạt 3,6 tỷ USD, chiếm 2%, tăng 29,7%.

Thị trường xuất khẩu chủ lực trong 10 tháng đầu năm: xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng 14,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, có mức tăng trưởng nổi trội, đạt 48%; thị trường ASEAN chiếm 10,4%, tăng 26,5%; thị trường Mỹ chiếm 20%, tăng 10,1%; thị trường Châu Âu chiếm 18,3%, tăng 15,7%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng  9/2017 đạt 18.241 triệu USD, thấp hơn 359 triệu USD so với số ước tính. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 10 ước đạt 18,5 tỷ USD, tăng 1,4% so với tháng trước.

Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 172,5 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 107,9 tỷ USD, tăng 29,2%, chiếm tỷ trọng 62,5%; khu vực kinh tế trong nước đạt 64,6 tỷ USD, tăng 11,6%.

Nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu trong 10 tháng: nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 154,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 89,4% và tăng 29,2%; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt 10 tỷ USD, chiếm 5,8% và tăng 8,2%. Cơ cấu nhập khẩu vẫn theo xu hướng tích cực, nhằm mục tiêu phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Thị trường nhập khẩu chủ yếu trong 10 tháng: Trung Quốc (chiếm 27,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, tăng 16,7%), Hàn Quốc (chiếm 22,5%, tăng 48,4%), ASEAN (chiếm 13,1%, tăng 17%), Nhật Bản (chiếm 7,7%, tăng 8%)…

Cán cân thương mại

Cân đối xuất nhập khẩu chuyển biến tích cực. Trong tháng 10, cả nước xuất siêu khoảng 900 triệu USD, là tháng thứ 4 liên tiếp có xuất siêu. Cán cân thương mại 10 tháng đầu năm đã chuyển từ tình trạng nhập siêu sang xuất siêu (khoảng 1,2 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 16,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,6 tỷ USD.

Tình hình nhập siêu đối với một số thị trường cũng được cải thiện. Mức tăng trưởng xuất khẩu vào Trung Quốc cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng nhập khẩu từ thị trường này khiến thâm hụt cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có sự cải thiện (nhập siêu từ Trung Quốc 10 tháng năm 2017 khoảng 21,4 tỷ USD, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm 2016). Nhập siêu từ ASEAN chững lại nhờ sự phục hồi kim ngạch xuất khẩu, tính chung 10 tháng đầu năm, nhập siêu từ ASEAN khoảng 4,5 tỷ USD, giảm nhẹ so với 9 tháng (4,6 tỷ USD).

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 10 tháng đạt 28,2 tỷ USD, tăng 37.4%

Tính đến ngày 20/10/2017, tổng vốn đầu tư đăng ký có yếu tố nước ngoài (bao gồm FDI) ước đạt 28,2 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó

  • 2.070 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 16,3 tỷ USD, tăng 32,9%;
  • 1.001 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,2 tỷ USD, tăng 35,9%;
  • 4.156 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,7 tỷ USD, tăng 58,8%.

Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 11,8% (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,5%).

Lĩnh vực thu hút FDI: Trong 10 tháng đầu năm, các lĩnh vực sản xuất vẫn thu hút được nhiều sự quan tâm nhất của các nhà đầu tư, đứng đầu là công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm tỷ trọng 48,7% tổng số vốn đăng ký) và sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa (chiếm 19,9%), hoạt động kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ 3 (chiếm 7,2%) vượt bán buôn, bán lẻ (chiếm 6%).

Đối tác đầu tư FDI: Hàn Quốc tiếp tục là quốc gia dẫn đầu trong số 128 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, với 6.404 dự án và tổng số vốn đăng ký lũy kế đến 20/10/2017 là 57,1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 18,2%; Nhật Bản đứng thứ 2 (chiếm tỷ trọng 14,8% với 3.551 dự án và 46,3 tỷ USD), tiếp theo là Singapore (chiếm tỷ trọng 13,3% với 1.944 dự án và 41,7 tỷ USD) và Đài Loan (chiếm tỷ trọng 9,8% với 2.531 dự án và 30,8 tỷ USD).

Bội chi ngân sách nhà nước 40,0 nghìn tỷ đồng trong 8 tháng đầu năm

Thu ngân sách Nhà nước tính đến hết tháng 10/2017 ước đạt đạt 972,64 nghìn tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán năm, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó:

  • Thu nội địa ước đạt 776,82 nghìn tỷ đồng, bằng 78,4% dự toán, tăng 12,7%;
  • Thu từ dầu thô ước đạt 37,86 nghìn tỷ đồng, bằng 98,8% dự toán, tăng 16,1%;
  • Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 155,33 nghìn tỷ đồng, bằng 86,3% dự toán, tăng 20,9%.

Chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.013,2 nghìn tỷ đồng, bằng 72,9% dự toán, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó:

  • Chi đầu tư phát triển ước đạt 191,9 nghìn tỷ đồng, bằng 53,7% dự toán, tăng 8,2%;
  • Chi thường xuyên (không bao gồm chỉ cải cách tiền lương, tinh giản biên chế) ước đạt 735,9 nghìn tỷ đồng, bằng 82,1% dự toán, tăng 6,7%;
  • Chi trả nợ lãi ước đạt 80,9 nghìn tỷ đồng, bằng 81,8% dự toán, tăng 13,9%;

Chi trả nợ gốc ước đạt 134,42 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 82% dự toán năm; giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện

Theo báo cáo Doing Business 2018 mới nhất của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 31/10/2017, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam tiếp tục có bước tiến bộ vượt bậc, tăng 14 bậc, từ vị trí thứ 82 lên vị trí thứ 68/190 nền kinh tế (theo báo cáo Doing Business 2017, Việt Nam đã tăng 9 bậc, từ 91 lên 82/190 nền kinh tế).

Tuy nhiên, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 10/2017 đạt 51,6 điểm, giảm so với tháng 9/2017 (53,3 điểm).

Về tình hình đăng ký doanh nghiệp, trong tháng 10/2017, số doanh nghiệp được thành lập mới là 11.158 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký là 119,2 nghìn tỷ đồng, tăng 29,6% về số doanh nghiệp và tăng 48,0% về số vốn đăng ký so với tháng trước; tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng đạt 10,7 tỷ đồng, tăng 14,2%.

Tính chung 10 tháng đầu năm, cả nước có 105.125 doanh nghiệp được thành lập mới, với số vốn đăng ký là 1,02 triệu tỷ đồng, tăng 14,6% về số doanh nghiệp và tăng 43,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 9,7 tỷ đồng, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, số doanh nghiệp đang hoạt động là 102.146 doanh nghiệp, chiếm 97,17% tổng số doanh nghiệp thành lập mới.

Trong 10 tháng đầu năm, có 22.765 doanh nghiệp trước đây gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, nay đã trở lại hoạt động, tăng 1,2%. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 52.782 doanh nghiệp, tăng 4,1%. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 9.794 doanh nghiệp, tăng 5,4%.

Kinh tế thế giới

Tăng trưởng kinh tế: Tháng 10/2017, nhiều tổ chức quốc tế nâng dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới (KTTG) năm 2017-2018.

  • Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính tăng trưởng KTTG năm 2017 đạt 3,6% (tăng 0,1% điểm so với dự báo tháng 7/2017).
  • Theo Ngân hàng Thế giới (WB), kinh tế toàn cầu đang đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011. Tăng trưởng cao hơn dự báo của khu vực đồng Euro, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Canada đã bù đắp cho tốc độ tăng trưởng chậm lại ở Mỹ, Anh và phần nào là Ấn Độ.
  • Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), phục hồi tăng trưởng diễn ra ở hầu hết các khu vực trên thế giới; lần đầu tiên kể từ năm 2010, tất cả 45 nền kinh tế lớn nhất thế giới đều tăng trưởng dương.

Yếu tố thuận lợi: Đà tăng trưởng tích cực của kinh tế toàn cầu có được do:

  • Sự phục hồi mạnh sản xuất công nghiệp, tiêu dùng, thương mại và đầu tư, đặc biệt là ở Châu Âu và Châu Á- Thái Bình Dương.
  • Lòng tin tiêu dùng và kinh doanh được tăng cường; chỉ số quản trị nhà sản xuất (PMI) toàn cầu trong lĩnh vực chế tạo tiếp tục khởi sắc;
  • Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng trong những tháng gần đây, ước sẽ tăng khoảng 4,2% cả năm 2017.
  • Điều kiện tài chính quốc tế diễn biến thuận lợi hơn, rủi ro biến động giảm. Theo IMF, từ tháng 3/2017 đến tháng 9/2017, đồng USD đã giảm 7%, đồng Yên Nhật giảm 3%, trong khi đồng Euro tăng 6%. Nhiều khả năng từ nay đến hết năm 2017, Mỹ có thể chỉ tăng lãi suất thêm một lần và không gây biến động trên thị trường tài chính quốc tế.

Yếu tố rủi ro: Bên cạnh đó, KTTG còn tiềm ẩn nhiều rủi ro:

  • Tính bất định trong môi trường kinh tế toàn cầu tăng lên do phản ứng chính sách khó lường của một số nước, nhất là Mỹ và tiến trình Anh đàm phán rời EU;
  • Rủi ro bất ổn tài chính toàn cầu chưa bị đẩy lùi nếu Trung Quốc không kiểm soát tốt các rủi ro trong tái cơ cấu và tái cân bằng kinh tế, EU không xử lý tốt các hệ lụy của khủng hoảng nợ công…;
  • Các bất ổn địa – chính trị (khủng bố, căng thẳng leo thang trên bán đảo Triều Tiên, Trung Đông), thiên tai và thời tiết cực đoan tác động khó lường đến ổn định và phát triển của nhiều quốc gia.

Chỉ số giá hàng hoá cơ bản toàn cầu (từ tháng 02- 8/2017) đã giảm 5%, trong đó giá dầu thô giảm 8,1%, giá khí đốt giảm 9,6%, giá nông sản giảm 5%, nhưng giá than đá tăng 16,5%, giá kim loại tăng 0,8%.

Giá dầu tháng 10/2017 tương đối ổn định, giao động quanh 50 USD/thùng, có lúc nhích lên gần 52 USD/thùng. Nguồn cung dầu vẫn khá dồi dào do sản xuất dầu đá phiến của Mỹ cao hơn dự kiến, phục hồi mạnh sản xuất dầu ở Li-bi, Ni-giê-ri-a, xuất khẩu dầu của các nước Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) vẫn ở mức cao mặc dù đã tuân thủ cam kết giảm sản lượng đến quý 1/2018. IMF dự báo giá dầu năm 2017 đạt bình quân 53 USD/ thùng và năm 2018 có thể tăng lên 56 USD/thùng.

Tình hình tăng trưởng của một số nền kinh tế:

  • Kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại, ước tăng 2,2% trong năm 2017 (thấp hơn 0,1% điểm so với dự báo tháng 7/2017 của IMF) nhờ tăng mạnh tiêu dùng và phục hồi ngành năng lượng. Tác động của bão Harvey và Irma gây khó khăn nhất định cho kinh tế Mỹ trong quý 3/2017. Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục giảm, mặc dù tốc độ giảm chậm lại, đến tháng 9/2017 giảm còn 4,2%.
  • Khu vực đồng Euro ước tăng trưởng 2,1% năm 2017 (cao hơn 0,4% điểm so với dự báo tháng 4/2017 của IMF) nhờ tăng xuất khẩu, tiêu dùng, hiệu ứng nới lỏng tiền tệ. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm còn khoảng 9%, mức thấp nhất kể từ năm 2009. Hầu hết các nền kinh tế thành viên đều khởi sắc như Đức tăng 2%, Pháp tăng 1,6%, Italy tăng 1,5%, Tây Ban Nha tăng 3,1%…
  • Kinh tế Anh tiếp tục tăng trưởng chậm lại, ước chỉ đạt 1,7% năm 2017 (giảm 0,3% điểm so với dự báo tháng 4/2017 của IMF) do tiêu dùng tăng chậm, đồng Bảng Anh giảm giá, triển vọng bấp bênh trong đàm phán Anh rời EU (Brexit). Nhật Bản ước tăng trưởng 1,5% năm 2017 nhờ tăng xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư cải thiện do mở rộng tài khóa.

  • Trung Quốc tăng trưởng khá cao, GDP quý 3/2017 đã tăng 6,8%, ước cả năm sẽ tăng trưởng khoảng 6,8% nhờ tăng trưởng tín dụng, tiêu dùng và cải cách trọng cung.
  • Các nước ASEAN tăng trưởng khá tích cực nhờ nhu cầu phục hồi thu hút đầu tư và xuất khẩu, trong đó tăng trưởng của Indonesia là 5,2%, Malaysia 5,4%, Philippine 6,6%, Thái Lan 3,7%…

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

Phòng Giao Dịch tổng hợp