Chào mừng đến với Phòng Giao Dịch - VNDIRECT

Kinh tế vĩ mô tháng 11/2017

02 Dec

Kinh tế vĩ mô tháng 11/2017

Tình hình kinh tế trong tháng 11/2017 tiếp tục có diễn biến tích cực. Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng vượt bậc.

Kinh Tế Trong Nước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 0,13% so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2017 tăng 0,13% so với tháng trước; tăng 2,38% so với tháng 12/2016 và tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng đầu năm tăng 3,61% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, trong phạm vi Quốc hội đề ra là dưới 4%.

Lạm phát cơ bản tháng 11/2017 tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 11 tháng năm 2017 tăng 1,42% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Nhóm hàng tăng giá mạnh trong tháng 11/2017:

  • Nhóm giao thông tăng cao nhất với 0,68% do ảnh hưởng từ hai đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 4/11/2017 và 20/11/2017 (tác động làm CPI tăng khoảng 0,07%);
  • Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,2%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,23% do trong tháng có 2 tỉnh thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế cho đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế;
  • Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,15%;
  • Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%.

Nhóm hàng tăng giá thấp hơn hoặc giảm trong tháng:

  • Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11% (lương thực tăng 1,12%; thực phẩm giảm 0,06%);
  • Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%;
  • Đồ uống và thuốc lá tăng 0,05%;
  • Giáo dục tăng 0,03% (dịch vụ giáo dục tăng 0,04%);
  • Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%;
  • Bưu chính viễn thông giảm 0,03%;
  • Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,04%.

Chỉ số giá vàng tháng 11/2017 giảm 0,3% so với tháng trước; tăng 4,86 % so với tháng 12/2016; tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2017 giảm 0,01% so với tháng trước; giảm 0,07% so với tháng 12/2016 và tăng 1,45% so với cùng kỳ năm 2016.

Nuôi cá tra và nuôi tôm nước lợ thuận lợi, chăn nuôi lợn tiếp tục khó khăn

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa, hoa màu vụ mùa trên cả nước, gieo trồng cây màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc.

Tính đến trung tuần tháng 11, cả nước đã thu hoạch được 1.232,5 nghìn ha lúa mùa, chiếm 69,9% diện tích gieo cấy và bằng 99,4% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch 1.106,3 nghìn ha, chiếm 97,6% và bằng 98,5%; các địa phương phía Nam thu hoạch 126,2 nghìn ha, chiếm 20% và bằng 107%.

Tính đến thời điểm 15/11/2017, cả nước gieo trồng được 95,3 nghìn ha ngô, bằng 79% cùng kỳ năm trước; 19,2 nghìn ha khoai lang, bằng 66,2%; 7,3 nghìn ha đậu tương, bằng 41,2%; 6,2 nghìn ha lạc, bằng 98,4%; 132,5 nghìn ha rau đậu, bằng 86,4%.

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định, riêng chăn nuôi lợn còn gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ trong tháng chưa có nhiều chuyển biến, giá thịt lợn vẫn ở mức thấp khiến quy mô đàn tiếp tục xu hướng giảm.

Về lâm nghiệp, trong tháng 11, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 24,5 nghìn ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 207,5 nghìn ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 11 đạt 986 nghìn m3, tăng 10,4%; do trong tháng có nhiều diện tích rừng trồng đến kỳ khai thác và tận thu từ diện tích đổ gãy sau bão số 10 tại các tỉnh miền Trung. Tính chung 11 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 9.758 nghìn m3, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong tháng, thời tiết mưa nhiều nên không xảy ra hiện tượng cháy rừng, cả nước có 123 ha rừng bị thiệt hại do chặt, phá. Tính chung 11 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.489 ha, giảm 56% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 471 ha, giảm 79,8%; diện tích rừng bị chặt, phá là 1.018 ha, giảm 3,1%.

Về thủy sản, sản lượng thủy sản tháng 11 ước tính đạt 677,6 nghìn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.478,3 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.422,3 nghìn tấn, tăng 5,1%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.056 nghìn tấn, tăng 4,5% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.874,5 nghìn tấn, tăng 4,6%).

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 381,8 nghìn tấn, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 260,8 nghìn tấn, tăng 13%; tôm đạt 78,1 nghìn tấn, tăng 14%.

  • Nuôi cá tra gặp thuận lợi do nhu cầu thu mua làm nguyên liệu chế biến phục vụ cho đơn hàng xuất khẩu của các nhà máy thủy sản tăng lên, giá cá tra thương phẩm tăng từ 1.500-2.000 đồng/kg so với tháng trước. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 101,9 nghìn tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
  • Nuôi tôm nước lợ khá thuận lợi do thời tiết đang vào mùa mưa, độ mặn giảm giúp tôm phát triển tốt, giá tôm ổn định và ở mức cao. Sản lượng tôm nước lợ trong tháng ước tính đạt 74 nghìn tấn, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tôm sú đạt 23,2 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm thẻ chân trắng đạt 50,8 nghìn tấn, tăng 20,1%.

Thời tiết trong tháng không thuận cho hoạt động khai thác thủy sản, nhất là khai thác biển do nhiều bão, áp thấp xảy ra trên biển đông, đồng thời do hậu quả của bão số 12, nhiều tàu thuyền đánh cá bị hư hỏng, chưa kịp sửa chữa nên ngư dân không thể ra khơi. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng của cả nước ước tính đạt 295,8 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 224,5 nghìn tấn, tăng 2,3%; tôm đạt 13,6 nghìn tấn, tăng 3%. Riêng sản lượng khai thác biển đạt 277,5 nghìn tấn, tăng 1,8%, trong đó cá đạt 212,7 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 12,5 nghìn tấn, tăng 2,5%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng 11 ước tính tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó:

  • Ngành chế biến, chế tạo tăng cao ở mức 24,3%;
  • Sản xuất và phân phối điện tăng 13%;
  • Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10%;
  • Ngành khai khoáng giảm 4,1%.

Tính chung 11 tháng năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,7% của 10 tháng năm nay và cao hơn nhiều mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2016. Trong đó:

  • Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục tăng cao với mức tăng 14,4%, đóng góp 10,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung;
  • Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm;
  • Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm;
  • Ngành khai khoáng giảm 7,1%, làm giảm 1,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 31,5%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,2%, đây là những ngành có tốc độ tăng cao trong những tháng gần đây, đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng cao của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong những tháng cuối năm.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,7%; khai khoáng khác (chủ yếu khai thác đá, cát, sỏi) tăng 3,9%; sản xuất xe có động cơ giảm 0,2%; khai thác than cứng, than non và sản xuất sản phẩm thuốc lá cùng giảm 1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2017 tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,6% so với 10 tháng năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 8,3%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/11/2017 tăng 9,3% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2016 tăng 8,8%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 10 tháng năm 2017 là 65,6% (cùng kỳ năm trước là 66,9%).

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ tiếp tục xu hướng tăng khá

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 ước tính đạt 344,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó:

  • Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 258,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% và tăng 12,3%;
  • Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 41,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2% và tăng 7,3%;
  • Doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% và tăng 22,5%;
  • Doanh thu dịch vụ khác đạt 41,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% và tăng 11,3%.

Tính chung 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.600,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,5% (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,9%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 11 tháng ước tính đạt 2.697,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,9% tổng mức và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tính đạt 445,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,4% tổng mức và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước;  Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 33,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 424,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong hoạt động bán lẻ:

  • Doanh thu bán lẻ ô tô tăng 17,8%;
  • Đá quý, kim loại quý tăng 15,2%;
  • Hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,5%;
  • Xăng dầu các loại tăng 11,8%;
  • Lương thực, thực phẩm tăng 10,4%;
  • Vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 9,7%;
  • May mặc tăng 9,2%;
  • Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,2%;
  • Phương tiện đi lại tăng 8,5%.

Cán cân thương mại 11 tháng xuất siêu khoảng 2,8 tỷ usd

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 10/2017 đạt 20.292 triệu USD, cao hơn 892 triệu USD so với số ước tính, là tháng có kim ngạch cao nhất kể từ đầu năm.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11 ước đạt 19,2 tỷ USD, giảm 5,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,0 tỷ USD, giảm 2,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,2 tỷ USD, giảm 6,5%.

Tính chung 11 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 193,8 tỷ USD, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 53,1 tỷ USD, tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 140,7 tỷ USD, tăng 22,8%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 11 tháng, Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 38,1 tỷ USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2016; tiếp đến là EU đạt 35 tỷ USD, tăng 13,9%; Trung Quốc đạt 30,3 tỷ USD, tăng 54,2%; thị trường ASEAN đạt 19,8 tỷ USD, tăng 25,8%; Nhật Bản đạt 15,2 tỷ USD, tăng 14,9%; Hàn Quốc đạt 13,6 tỷ USD, tăng 30,4%. 

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 41,3 tỷ USD, tăng 30,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 23,6 tỷ USD, tăng 38,1%; dệt may đạt 23,6 tỷ USD, tăng 9,5%; giày dép đạt 13 tỷ USD, tăng 11,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 11,5 tỷ USD, tăng 27%; thủy sản đạt 7,6 tỷ USD, tăng 18,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,9 tỷ USD, tăng 10,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 6,4 tỷ USD, tăng 16,2%; hạt điều đạt 3,2 tỷ USD, tăng 23,3% (lượng tăng 1,1%); rau quả đạt 3,2 tỷ USD, tăng 43,1%.

Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà phê đạt 2,9 tỷ USD, giảm 3,6% (lượng giảm 22,4%); hạt tiêu đạt 1,1 tỷ USD, giảm 21,4% (lượng tăng 20,5%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 896 triệu USD, giảm 1,2% (lượng tăng 3,9%).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 10/2017 đạt 18.111 triệu USD, thấp hơn 389 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11 ước đạt 19,0 tỷ USD, tăng 4,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,6 tỷ USD, tăng 7,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,4 tỷ USD, tăng 3,5%.

Tính chung 11 tháng năm 2017, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 191,0 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 76,5 tỷ USD, tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 114,5 tỷ USD, tăng 23,2%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 11 tháng năm 2017, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 52,1 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là Hàn Quốc đạt 42,4 tỷ USD, tăng 46%; ASEAN đạt 25,4 tỷ USD, tăng 17,5%; Nhật Bản đạt 14,7 tỷ USD, tăng 7,5%; EU đạt 11 tỷ USD, tăng 10,5%; Hoa Kỳ đạt 8,4 tỷ USD, tăng 7%.

Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 34 tỷ USD, tăng 34%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 30,7 tỷ USD, tăng 20,7%; điện thoại và linh kiện đạt 14,4 tỷ USD, tăng 50,2%; vải đạt 10,3 tỷ USD, tăng 8%; sắt thép đạt 8,3 tỷ USD, tăng 14,3% (lượng giảm 16,7%); chất dẻo đạt 6,7 tỷ USD, tăng 17,8% (lượng tăng 9%); xăng dầu đạt 6,3 tỷ USD, tăng 39,3% (lượng tăng 9,9%); nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 5 tỷ USD, tăng 8,1%; kim loại thường đạt 5 tỷ USD, tăng 13,9% (lượng giảm 19,2%); sản phẩm chất dẻo đạt 4,9 tỷ USD, tăng 22,3%; sản phẩm hóa chất đạt 4,1 tỷ USD, tăng 19,8%; hóa chất đạt 3,7 tỷ USD, tăng 27%; bông đạt 2,2 tỷ USD, tăng 44,6% (lượng tăng 26,2%).

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 10 xuất siêu 2,2 tỷ USD. Tháng 11 ước tính xuất siêu 200 triệu USD, tính chung 11 tháng năm 2017 xuất siêu 2,8 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 23,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 26,2 tỷ USD.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 11 tháng ước đạt 33,1 tỷ usd, tăng 53,4% 

Tính đến ngày 20/11/2017, tổng vốn đầu tư đăng ký có yếu tố nước ngoài (bao gồm FDI) ước đạt 33,1 tỷ USD, tăng 53,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó:

  • 293 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 19,8 tỷ USD, tăng 2,4% về số dự án và tăng 52% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016.
  • 100 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 8 tỷ USD, tăng 57,6% so với cùng kỳ năm trước
  • 535 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 5,3 tỷ USD.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng ước tính đạt 16 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Lĩnh vực thu hút FDI:  Trong 11 tháng, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 8,4 tỷ USD, chiếm 42,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 31,7%; các ngành còn lại đạt 5,1 tỷ USD, chiếm 26%.

Đối tác đầu tư FDI: Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 7.659,1 triệu USD, chiếm 38,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3.789,6 triệu USD, chiếm 19,1%; Singapore 3.248,3 triệu USD, chiếm 16,4%; Trung Quốc 1.352,7 triệu USD, chiếm 6,8%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 679,3 triệu USD, chiếm 3,4%; CHLB Đức 337,5 triệu USD, chiếm 1,7%.

Bội chi ngân sách nhà nước 66,6 nghìn tỷ đồng trong 11 tháng đầu năm

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2017 ước tính đạt 999,1 nghìn tỷ đồng, bằng 82,4% dự toán năm, trong đó:

  • Thu nội địa đạt 790,4 nghìn tỷ đồng, bằng 79,8% dự toán;
  • Thu từ dầu thô 39,5 nghìn tỷ đồng, bằng 103,2% dự toán;
  • Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 164,8 nghìn tỷ đồng, bằng 91,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2017 ước tính đạt 1.065,7 nghìn tỷ đồng, bằng 76,6% dự toán năm, trong đó

  • Chi thường xuyên đạt 773 nghìn tỷ đồng, bằng 86,2%;
  • Chi trả nợ lãi 84,7 nghìn tỷ đồng, bằng 85,7%;
  • Chi đầu tư phát triển đạt 203,1 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 56,9% dự toán năm (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 198,1 nghìn tỷ đồng, bằng 56,2%).
  • Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2017 ước tính đạt 145,7 nghìn tỷ đồng, bằng 88,9% dự toán năm.

Trong 11 tháng có 116 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập, tăng 14,1%

Trong tháng 11/2017, cả nước có 10.920 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 109,9 nghìn tỷ đồng, giảm 2,1% về số doanh nghiệp và giảm 7,8% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,1 tỷ đồng, giảm 5,8%.

Tính chung 11 tháng năm nay, cả nước có 116.045 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.131,8 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% về số doanh nghiệp và tăng 41,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,8 tỷ đồng, tăng 24,3%.

Nếu tính cả 1.582,6 nghìn tỷ đồng của hơn 32,2 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 11 tháng năm 2017 là 2.714,4 nghìn tỷ đồng.

Theo ngành nghề kinh doanh chính, trong 11 tháng năm 2017 có 41,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ (chiếm 35,9% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; 14,8 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,8%), tăng 8,3%; 14,7 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,7%), tăng 9,1%; ….

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 11 tháng năm 2017 là 10.814 doanh nghiệp, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 9.905 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,6%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 11 tháng là 55.664 doanh nghiệp, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 20.821 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 10,2% và 34.843 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 0,9%.

Kinh Tế Thế Giới

Tăng trưởng kinh tế: Tháng 11/2017, nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá lạc quan về tăng trưởng KTTG trong năm 2017-2018; cho rằng kinh tế toàn cầu đang ở trạng thái tốt nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong nửa cuối năm 2017, một số nền kinh tế lớn (Mỹ, Đức, Trung Quốc…) đã tăng trưởng mạnh hơn.

  • Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), sự phục hồi của kinh tế toàn cầu đang diễn ra trên diện rộng, trong đó tất cả các nền kinh tế chủ chốt ở cả nhóm nước phát triển và các nền kinh tế đang nổi đều tăng trưởng tích cực.
  • Theo Ngân hàng Đức (Deutscher Bank), số lượng nền kinh tế gặp khó khăn đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đến nay.

Đà tăng trưởng tích cực của kinh tế toàn cầu có được do phục hồi mạnh sản xuất công nghiệp, tiêu dùng, thương mại và đầu tư. Lòng tin tiêu dùng và kinh doanh được tăng cường; chỉ số quản trị nhà sản xuất (PMI) toàn cầu trong lĩnh vực chế tạo tiếp tục khởi sắc; nhiều doanh nghiệp tăng đầu tư đổi mới công nghệ để tăng năng suất. Tài chính quốc tế tương đối ổn định, tỷ giá các đồng tiền chủ chốt không biến động. Các thị trường chứng khoán quốc tế lớn sôi động và khởi sắc, trong đó các chứng khoán trong lĩnh vực công nghệ tăng mạnh; từ đầu năm 2017 đến nay, chỉ số S&P 500 (Mỹ) đã tăng 14%, chỉ số Dax (Đức) tăng 13%…

– Kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh vượt dự báo với tốc độ 3% trong quý 3/2017; xuất khẩu tăng, nhập khẩu và thâm hụt thương mại giảm.Với đà tăng trưởng hiện nay, nhiều ý kiến dự báo Mỹ có thể sẽ đẩy nhanh hơn nhịp độ tăng lãi suất trong năm 2018.

– Trung Quốc có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại sau khi tăng trưởng cao 6,9% trong 9 tháng đầu năm 2017; các chỉ số kinh tế cơ bản trong tháng 10/2017 đều thấp hơn các tháng trước; có ý kiến cảnh báo rủi ro khủng hoảng tài chính khi nợ của Trung Quốc tăng nhanh trong 5 năm tới (dự báo nợ của Trung Quốc có thể tăng lên 327% GDP vào năm 2022).

– Nhật Bản tăng trưởng 1,4% trong quý 3/2017, là quý tăng trưởng thứ 7 liên tiếp và cũng là chuỗi quý tăng trưởng dài nhất trong hơn 10 năm qua.

– Khu vực đồng Euro (Eurozone) ước tăng trưởng 2,2% trong năm 2017, mức cao nhất trong vòng một thập kỷ qua; trong đó Pháp tăng 1,6%; Tây Ban Nha tăng 3,1%…

– Anh ước tăng trưởng thấp hơn dự báo với 1,5% trong năm 2017, có thể sẽ giảm xuống 1,3% trong các năm 2018. Ngày 02/11/2017, lần đầu tiên trong 10 năm qua, Anh đã tăng lãi suất từ 0,25% lên 0,5% và dự kiến sẽ tăng dần lãi suất trong 3 năm tới do lo ngại lạm phát (tháng 9/2017 lạm phát đã cao nhất trong 5 năm qua).

Theo OECD, các nước đang phát triển châu Á dự báo tăng trưởng bình quân 6,3% trong giai đoạn 2018-2022, trong đó Đông Nam Á tăng trưởng khoảng 5,2%.

Giá dầu đầu tháng 11/2017 đã tăng khá mạnh do tác động của leo thang căng thẳng ở Trung Đông. Tuy nhiên, nhiều tổ chức quốc tế nhận định giá dầu sẽ không tăng đột biến, có khả năng dao động trong khoảng 55-65 USD/thùng trong năm 2018 do cắt giảm sản lượng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) được bù đắp bởi việc tăng sản lượng dầu từ các nước ngoài OPEC, nhất là Mỹ.

Thương mại toàn cầu ước tăng 4,6% trong năm 2017, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2011 trở lại đây; trong đó xuất khẩu của các nền kinh tế đang nổi tăng khoảng 5,3%, của các nước phát triển tăng khoảng 4,1%.

Tuy nhiên, từ năm 2018-2022, thương mại toàn cầu dự báo sẽ tăng chậm lại với 3,4% do tác động của chủ nghĩa bảo hộ, chuyển dịch cơ cấu của chuỗi giá trị toàn cầu và sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

Phòng Giao Dịch tổng hợp